
- Nghiên cứu khoa học

CHUYỂN ĐỔI SINH KẾ NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC THÍCH ỨNG CỦA ĐỒNG BÀO VÙNG CAO TỈNH CAO BẰNG
Thứ ba - 25/08/2026 10:19
Tại các địa bàn vùng cao của tỉnh Cao Bằng, nơi địa hình chia cắt, độ dốc lớn và thường xuyên thiếu nước sản xuất, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số chịu nhiều tác động từ thiên tai và biến đổi khí hậu. Các đợt rét đậm, rét hại, mưa lớn thời gian qua đã gây thiệt hại đáng kể cho cây trồng, vật nuôi, cho thấy sự phụ thuộc lớn vào mô hình sinh kế tự cung, tự cấp và khả năng thích ứng còn hạn chế. Vì vậy, cần chuyển từ hỗ trợ an sinh mang tính thụ động, ngắn hạn sang thúc đẩy chuyển đổi sinh kế bền vững, dựa trên tri thức thực tiễn và tư duy kinh tế hàng hóa, qua đó nâng cao năng lực thích ứng chủ động và ổn định đời sống đồng bào vùng cao.
Thực trạng sinh kế của đồng bào vùng cao tỉnh Cao Bằng hiện nay
Sinh kế của đồng bào vùng cao Cao Bằng vốn dựa vào canh tác nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ lẻ, manh mún, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, thời gian qua, hoạt động chuyển đổi mô hình sinh kế trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận những bước chuyển dịch tích cực:
Trong dịch chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên canh hàng hóa. Ngành nông nghiệp tỉnh đã bước đầu định hình lại sinh kế thông qua quy hoạch các vùng chuyên canh đặc sản gắn với cam kết bao tiêu sản phẩm dài hạn giai đoạn 2025-2040. Điển hình là các kế hoạch liên kết chuỗi giá trị cây Quế tại xã Quảng Lâm và các xã Canh Tân, Minh Khai, Ca Thành; mô hình thâm canh giống cây đặc sản hạt dẻ Trùng Khánh tại xã Đàm Thủy, xã Đình Phong; hay duy trì vùng nguyên liệu cây Thạch đen tại các xã Độc Lập, Quảng Uyên, Bế Văn Đàn[1].
Trong phát triển các sản phẩm OCOP và từng bước hội nhập thị trường số. Đến tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh đã phát triển và chuẩn hóa thành công 188 sản phẩm OCOP (gồm 10 sản phẩm 4 sao và 178 sản phẩm 3 sao), đồng thời hoàn thiện hồ sơ sản phẩm Trà tiên Kolia đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận đạt hạng 5 sao cấp quốc gia. Việc thiết lập mã QR code tích hợp đường dẫn truy cập trực tiếp để đưa các sản phẩm này lên Cổng thông tin thương mại điện tử của tỉnh (
Đa dạng hóa sinh kế sang lĩnh vực du lịch - dịch vụ bản địa. Trên cơ sở khai thác lợi thế của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, người dân tại các điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu như làng đá cổ Khuổi Ky, xóm Khuổi Khon, bản Hoài Khao, vùng trúc sào bản Phường hay Bản Giuồng...[3] đã từng bước chuyển từ canh tác thuần nông sang quản lý mô hình homestay, cung cấp dịch vụ trải nghiệm văn hóa và y dược cổ truyền.
Thực trạng năng lực thích ứng của người dân vùng cao hiện nay
Năng lực thích ứng của cộng đồng là khả năng tự điều chỉnh, giảm thiểu tổn thương và tận dụng cơ hội trước các biến động của môi trường và kinh tế. Đánh giá thực trạng cho thấy, năng lực thích ứng của đồng bào vùng cao Cao Bằng hiện đang ở giai đoạn chuyển tiếp, đan xen giữa những yếu tố chủ động mới hình thành và các rào cản nội tại:
Nhờ tiếp thu tri thức khoa học và các mô hình khuyến nông, người dân đã chủ động hơn trong việc khôi phục sản xuất sau thiên tai, chủ động dự tính, dự báo sâu bệnh và triển khai các biện pháp phòng chống đói rét cho gia súc nhằm duy trì sản lượng, bảo vệ nguồn thu nhập. Năng lực ứng dụng công nghệ của lao động trẻ tại các bản làng đã thể hiện sự năng động khi khai thác Cổng du lịch thông minh, ứng dụng “Cao Bang Tourism”, công nghệ số hóa VR360 để tự quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường, giảm bớt sự phụ thuộc thuần túy vào đất dốc. Việc chuyển dịch sang làm du lịch cộng đồng và kinh doanh nông sản OCOP tạo ra nguồn thu nhập bổ sung (doanh thu du lịch toàn tỉnh đạt ước tính 5.720 tỷ đồng vào năm 2025)[4], giúp người dân không rơi vào khủng hoảng khi sản xuất nông nghiệp bị thất thu do thiên tai.
Tuy nhiên, việc chuyển dịch sinh kế và nâng cao năng lực thích ứng của đồng bào vùng cao tỉnh Cao Bằng hiện nay vẫn đối mặt với những hạn chế cơ ba mang tính hệ thống. Về thực trạng sinh kế, tính bền vững trong phát triển kinh tế hộ gia đình chưa cao do quy mô sản xuất còn manh mún; thu hút nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách vào khâu chế biến sâu nông - lâm sản gặp nhiều rào cản do doanh nghiệp nhỏ lẻ và vướng mắc giải phóng mặt bằng, cùng với nguy cơ dịch bệnh vật nuôi luôn tiềm ẩn đứt gãy chuỗi sản xuất, trong khi việc thương mại hóa OCOP qua nền tảng số hay làm du lịch cộng đồng còn mang tính tự phát, chưa tạo ra giá trị gia tăng lâu dài. Về thực trạng năng lực thích ứng, sự chủ động ứng phó của cộng đồng chịu rào cản lớn từ hạ tầng số nông thôn khi toàn tỉnh vẫn còn hơn 130 thôn, xóm chưa được phủ sóng di động (vùng lõm sóng), gây ra khoảng trống thông tin cản trở cảnh báo thiên tai sớm và phát triển kinh tế số, đi cùng với công tác đào tạo nghề chưa bắt kịp đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi vẫn nặng về nông nghiệp truyền thống và thiếu kỹ năng dịch vụ, du lịch chất lượng cao.
Một số giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Để giải quyết các điểm nghẽn hạ tầng và thể chế, tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sinh kế, nâng cao năng lực thích ứng của người dân, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách, đẩy mạnh thu hút đầu tư gắn với chuỗi giá trị nông-lâm nghiệp. Tập trung ban hành các cơ chế đặc thù hấp dẫn nhằm thu hút các tập đoàn chiến lược đầu tư vào công nghiệp chế biến sâu nông-lâm sản và phát triển kinh tế rừng bền vững. Xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ về mặt lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân, ưu tiên mở rộng diện tích các cây trồng đặc hữu gắn với các vùng nguyên liệu đã quy hoạch như Quế, Hồi, Trúc sào, dược liệu và cây Thạch đen.
Thứ hai, phát triển hạ tầng kết nối kỹ thuật số và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu đất đai. Huy động đa dạng các nguồn lực xã hội hóa kết hợp vốn ngân sách từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng kinh tế cửa khẩu và xóa bỏ các vùng lõm sóng viễn thông. Tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, số hóa hồ sơ địa chính và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia thống nhất, đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh. Đây là nền tảng quan trọng để liên thông thủ tục hành chính, cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ đầu tư, tạo môi trường pháp lý minh bạch nhằm nâng cao chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh.
Thứ ba, đổi mới công tác giáo dục nghề nghiệp và bồi dưỡng tư duy dịch vụ dựa trên nền tảng văn hóa. Thực hiện đổi mới toàn diện chương trình giáo dục nghề nghiệp cho lao động nông thôn theo hướng tiếp cận năng lực thực tế, trang bị không chỉ kỹ thuật canh tác hiện đại mà cả tư duy quản trị kinh tế hợp tác xã và kỹ năng dòng vốn nhỏ. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của các thiết chế văn hóa cơ sở, nâng cao chất lượng các hoạt động truyền thông cộng đồng về bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể, danh lam thắng cảnh gắn với danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO. Từ đó, định hình và phát triển năng lực làm dịch vụ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng theo hướng tự chủ cho người dân.
Nâng cao năng lực thích ứng chủ động của đồng bào vùng cao thông qua chiến lược chuyển đổi sinh kế dựa trên nền tảng tri thức thực tế và tư duy kinh tế thị trường là một tiến trình kiên trì, mang tính chiến lược định hình xuyên suốt các nhiệm kỳ phát triển. Đây là cuộc cách mạng về mặt tư duy sản xuất, dịch chuyển từ trạng thái thụ động ứng phó thiên tai sang chủ động làm chủ hoàn cảnh kinh tế. Khi các nguồn lực chính sách của Tỉnh được khơi thông một cách thực chất, đồng thời tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo của người dân, Cao Bằng sẽ tạo ra những chuyển biến rõ nét ngay từ mỗi bản làng. Việc giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn về hạ tầng giao thông, hạ tầng số sẽ mở ra không gian phát triển mới vững chắc. Đây chính là nền tảng vững chãi để tỉnh nhà thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong bối cảnh mới./.
Thực trạng sinh kế của đồng bào vùng cao tỉnh Cao Bằng hiện nay
Sinh kế của đồng bào vùng cao Cao Bằng vốn dựa vào canh tác nông - lâm nghiệp quy mô nhỏ lẻ, manh mún, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, thời gian qua, hoạt động chuyển đổi mô hình sinh kế trên địa bàn tỉnh đã ghi nhận những bước chuyển dịch tích cực:
Trong dịch chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng chuyên canh hàng hóa. Ngành nông nghiệp tỉnh đã bước đầu định hình lại sinh kế thông qua quy hoạch các vùng chuyên canh đặc sản gắn với cam kết bao tiêu sản phẩm dài hạn giai đoạn 2025-2040. Điển hình là các kế hoạch liên kết chuỗi giá trị cây Quế tại xã Quảng Lâm và các xã Canh Tân, Minh Khai, Ca Thành; mô hình thâm canh giống cây đặc sản hạt dẻ Trùng Khánh tại xã Đàm Thủy, xã Đình Phong; hay duy trì vùng nguyên liệu cây Thạch đen tại các xã Độc Lập, Quảng Uyên, Bế Văn Đàn[1].
Trong phát triển các sản phẩm OCOP và từng bước hội nhập thị trường số. Đến tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh đã phát triển và chuẩn hóa thành công 188 sản phẩm OCOP (gồm 10 sản phẩm 4 sao và 178 sản phẩm 3 sao), đồng thời hoàn thiện hồ sơ sản phẩm Trà tiên Kolia đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận đạt hạng 5 sao cấp quốc gia. Việc thiết lập mã QR code tích hợp đường dẫn truy cập trực tiếp để đưa các sản phẩm này lên Cổng thông tin thương mại điện tử của tỉnh (
caobangtrade.vn) đã giúp kết nối nông sản đặc hữu trực tiếp với các hệ thống phân phối và điểm du lịch[2].Đa dạng hóa sinh kế sang lĩnh vực du lịch - dịch vụ bản địa. Trên cơ sở khai thác lợi thế của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng, người dân tại các điểm du lịch cộng đồng tiêu biểu như làng đá cổ Khuổi Ky, xóm Khuổi Khon, bản Hoài Khao, vùng trúc sào bản Phường hay Bản Giuồng...[3] đã từng bước chuyển từ canh tác thuần nông sang quản lý mô hình homestay, cung cấp dịch vụ trải nghiệm văn hóa và y dược cổ truyền.
Thực trạng năng lực thích ứng của người dân vùng cao hiện nay
Năng lực thích ứng của cộng đồng là khả năng tự điều chỉnh, giảm thiểu tổn thương và tận dụng cơ hội trước các biến động của môi trường và kinh tế. Đánh giá thực trạng cho thấy, năng lực thích ứng của đồng bào vùng cao Cao Bằng hiện đang ở giai đoạn chuyển tiếp, đan xen giữa những yếu tố chủ động mới hình thành và các rào cản nội tại:
Nhờ tiếp thu tri thức khoa học và các mô hình khuyến nông, người dân đã chủ động hơn trong việc khôi phục sản xuất sau thiên tai, chủ động dự tính, dự báo sâu bệnh và triển khai các biện pháp phòng chống đói rét cho gia súc nhằm duy trì sản lượng, bảo vệ nguồn thu nhập. Năng lực ứng dụng công nghệ của lao động trẻ tại các bản làng đã thể hiện sự năng động khi khai thác Cổng du lịch thông minh, ứng dụng “Cao Bang Tourism”, công nghệ số hóa VR360 để tự quảng bá sản phẩm, kết nối thị trường, giảm bớt sự phụ thuộc thuần túy vào đất dốc. Việc chuyển dịch sang làm du lịch cộng đồng và kinh doanh nông sản OCOP tạo ra nguồn thu nhập bổ sung (doanh thu du lịch toàn tỉnh đạt ước tính 5.720 tỷ đồng vào năm 2025)[4], giúp người dân không rơi vào khủng hoảng khi sản xuất nông nghiệp bị thất thu do thiên tai.
Tuy nhiên, việc chuyển dịch sinh kế và nâng cao năng lực thích ứng của đồng bào vùng cao tỉnh Cao Bằng hiện nay vẫn đối mặt với những hạn chế cơ ba mang tính hệ thống. Về thực trạng sinh kế, tính bền vững trong phát triển kinh tế hộ gia đình chưa cao do quy mô sản xuất còn manh mún; thu hút nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách vào khâu chế biến sâu nông - lâm sản gặp nhiều rào cản do doanh nghiệp nhỏ lẻ và vướng mắc giải phóng mặt bằng, cùng với nguy cơ dịch bệnh vật nuôi luôn tiềm ẩn đứt gãy chuỗi sản xuất, trong khi việc thương mại hóa OCOP qua nền tảng số hay làm du lịch cộng đồng còn mang tính tự phát, chưa tạo ra giá trị gia tăng lâu dài. Về thực trạng năng lực thích ứng, sự chủ động ứng phó của cộng đồng chịu rào cản lớn từ hạ tầng số nông thôn khi toàn tỉnh vẫn còn hơn 130 thôn, xóm chưa được phủ sóng di động (vùng lõm sóng), gây ra khoảng trống thông tin cản trở cảnh báo thiên tai sớm và phát triển kinh tế số, đi cùng với công tác đào tạo nghề chưa bắt kịp đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế khi vẫn nặng về nông nghiệp truyền thống và thiếu kỹ năng dịch vụ, du lịch chất lượng cao.
Một số giải pháp trọng tâm trong thời gian tới
Để giải quyết các điểm nghẽn hạ tầng và thể chế, tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sinh kế, nâng cao năng lực thích ứng của người dân, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách, đẩy mạnh thu hút đầu tư gắn với chuỗi giá trị nông-lâm nghiệp. Tập trung ban hành các cơ chế đặc thù hấp dẫn nhằm thu hút các tập đoàn chiến lược đầu tư vào công nghiệp chế biến sâu nông-lâm sản và phát triển kinh tế rừng bền vững. Xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ về mặt lợi ích giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân, ưu tiên mở rộng diện tích các cây trồng đặc hữu gắn với các vùng nguyên liệu đã quy hoạch như Quế, Hồi, Trúc sào, dược liệu và cây Thạch đen.
Thứ hai, phát triển hạ tầng kết nối kỹ thuật số và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu đất đai. Huy động đa dạng các nguồn lực xã hội hóa kết hợp vốn ngân sách từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, hạ tầng kinh tế cửa khẩu và xóa bỏ các vùng lõm sóng viễn thông. Tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc lập bản đồ địa chính, số hóa hồ sơ địa chính và xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia thống nhất, đồng bộ trên địa bàn toàn tỉnh. Đây là nền tảng quan trọng để liên thông thủ tục hành chính, cắt giảm thời gian giải quyết hồ sơ đầu tư, tạo môi trường pháp lý minh bạch nhằm nâng cao chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh.
Thứ ba, đổi mới công tác giáo dục nghề nghiệp và bồi dưỡng tư duy dịch vụ dựa trên nền tảng văn hóa. Thực hiện đổi mới toàn diện chương trình giáo dục nghề nghiệp cho lao động nông thôn theo hướng tiếp cận năng lực thực tế, trang bị không chỉ kỹ thuật canh tác hiện đại mà cả tư duy quản trị kinh tế hợp tác xã và kỹ năng dòng vốn nhỏ. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò của các thiết chế văn hóa cơ sở, nâng cao chất lượng các hoạt động truyền thông cộng đồng về bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể, danh lam thắng cảnh gắn với danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO. Từ đó, định hình và phát triển năng lực làm dịch vụ du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng theo hướng tự chủ cho người dân.
Nâng cao năng lực thích ứng chủ động của đồng bào vùng cao thông qua chiến lược chuyển đổi sinh kế dựa trên nền tảng tri thức thực tế và tư duy kinh tế thị trường là một tiến trình kiên trì, mang tính chiến lược định hình xuyên suốt các nhiệm kỳ phát triển. Đây là cuộc cách mạng về mặt tư duy sản xuất, dịch chuyển từ trạng thái thụ động ứng phó thiên tai sang chủ động làm chủ hoàn cảnh kinh tế. Khi các nguồn lực chính sách của Tỉnh được khơi thông một cách thực chất, đồng thời tinh thần tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên thoát nghèo của người dân, Cao Bằng sẽ tạo ra những chuyển biến rõ nét ngay từ mỗi bản làng. Việc giải quyết dứt điểm các điểm nghẽn về hạ tầng giao thông, hạ tầng số sẽ mở ra không gian phát triển mới vững chắc. Đây chính là nền tảng vững chãi để tỉnh nhà thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc trong bối cảnh mới./.
CN. Trần Thị Thu Hương
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
[1],2 Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cao Bằng, Báo cáo số 2808/BC-SNNMT về Kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm và hương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
[3] Tỉnh ủy Cao Bằng, Báo cáo số 685-BC/TU tổng kết 03 chương trình trọng tâm, 03 nội dung đột phá phát hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025.
[4] Tỉnh ủy Cao Bằng, Báo cáo số 685-BC/TU tổng kết 03 chương trình trọng tâm, 03 nội dung đột phá phát hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025.