• dau-title
  • Nghiên cứu khoa học
  • cuoi-title

TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG KHÔNG NGỪNG CỦA V.I.LÊNIN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Thứ ba - 25/08/2026 10:13

      Chủ nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của phong trào cách mạng công nhân. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của học thuyết do C.Mác và Ph.Ăngghen sáng lập, đồng thời phát triển học thuyết ấy phù hợp với thực tiễn mới. Đóng góp nổi bật của ông là hoàn thiện lý luận về cách mạng không ngừng, làm rõ con đường chuyển từ cách mạng dân chủ sang cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và chính đảng cộng sản. Lý luận này có giá trị phương pháp luận quan trọng đối với cách mạng Việt Nam trong quá trình giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới.
       Tư tưởng cách mạng không ngừng được C.Mác và Ph.Ăngghen hình thành từ việc tổng kết phong trào cách mạng châu Âu thế kỷ XIX. Hai ông chỉ ra rằng giai cấp công nhân phải tham gia đấu tranh chống phong kiến, giành dân chủ nhưng không được hòa tan vào mục tiêu của giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân phải giữ vững độc lập chính trị, xây dựng tổ chức đảng, củng cố liên minh với nông dân và chuẩn bị lực lượng để chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. “Không ngừng” vì vậy không phải phủ nhận các giai đoạn khách quan, mà là không dừng lại ở thành quả dân chủ và không từ bỏ mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
       Trước sự xuyên tạc chủ nghĩa Mác của các trào lưu cơ hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin kiên quyết bảo vệ vai trò lịch sử của giai cấp công nhân, sự cần thiết của chính đảng cách mạng kiểu mới và mục tiêu giành chính quyền để cải tạo xã hội. Ông phê phán quan điểm tuyệt đối hóa con đường nghị trường, thỏa hiệp giai cấp và chờ đợi chủ nghĩa tư bản tự chuyển hóa hòa bình sang chủ nghĩa xã hội. Qua đó, V.I.Lênin giữ vững linh hồn cách mạng của chủ nghĩa Mác khi phong trào công nhân quốc tế đứng trước nguy cơ mất phương hướng.
Trên cơ sở đó, V.I.Lênin phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen. Ông chỉ ra rằng sự phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản trong thời đại đế quốc làm cho cách mạng có thể thắng lợi trước hết ở một hoặc một số nước. Tại những nước chưa hoàn thành cách mạng dân chủ tư sản, giai cấp công nhân phải giành quyền lãnh đạo, đưa cách mạng dân chủ đến thắng lợi triệt để rồi từng bước chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn có nhiệm vụ khác nhau nhưng liên hệ hữu cơ: giai đoạn trước tạo tiền đề cho giai đoạn sau; giai đoạn sau tiếp tục giải quyết những nhiệm vụ còn lại của giai đoạn trước.
      V.I.Lênin đồng thời làm rõ các điều kiện của quá trình chuyển biến: sự lãnh đạo của đảng cộng sản; liên minh công nhân - nông dân; và việc củng cố chính quyền cách mạng để vừa hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, dân chủ, vừa chuẩn bị các tiền đề chính trị, kinh tế, xã hội cho bước phát triển tiếp theo. Với các nước thuộc địa, phụ thuộc, ông đặt vấn đề giải phóng dân tộc trong quan hệ với cách mạng vô sản thế giới, qua đó mở rộng lý luận cách mạng không ngừng tới các dân tộc bị áp bức.
      Đối với Việt Nam, giá trị phương pháp luận trước hết thể hiện ở việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam không sao chép mô hình bên ngoài mà vận dụng nguyên lý phổ biến vào điều kiện cụ thể của đất nước. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, cách mạng Việt Nam tiếp tục xây dựng chế độ mới và tạo lập các tiền đề của chủ nghĩa xã hội. Tinh thần “không dừng lại nửa chừng” được thể hiện ở sự thống nhất giữa mục tiêu chiến lược và việc điều chỉnh sách lược, bước đi phù hợp với từng giai đoạn.
      Giai đoạn 1986 - 1991 đánh dấu bước đột phá về đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Từ thực tiễn khủng hoảng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Đảng chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đây không phải sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là điều chỉnh phương thức và bước đi để giải phóng lực lượng sản xuất, khắc phục trì trệ và tạo cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Bài học nổi bật là phải tôn trọng quy luật khách quan và kịp thời đổi mới những nhận thức không còn phù hợp.
      Giai đoạn 1991 - 2000, trong bối cảnh mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam vẫn kiên định con đường đã lựa chọn, đồng thời mở rộng đối ngoại, phá thế bao vây, cấm vận và chủ động hội nhập khu vực. Việc bình thường hóa quan hệ với các nước, gia nhập ASEAN và mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế cho thấy sự kết hợp giữa nguyên tắc chiến lược với sách lược linh hoạt. Mở cửa không đồng nghĩa với hòa tan; hội nhập phải gắn với giữ vững độc lập, tự chủ, ổn định chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa.
      Từ năm 2000 đến nay, tinh thần cách mạng không ngừng được thể hiện ở việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng. Việt Nam từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện mới, phát triển nhanh phải đi đôi với bền vững; tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
      Ý nghĩa của vấn đề còn nằm ở yêu cầu thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Cách mạng không ngừng đòi hỏi lực lượng lãnh đạo phải nâng cao năng lực cầm quyền, giữ vững bản chất cách mạng, chống quan liêu, tham nhũng và suy thoái. Đồng thời, mọi chủ trương phải lấy nhân dân làm trung tâm, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Đây là điều kiện để củng cố niềm tin xã hội và tạo động lực phát triển.
      Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vận dụng tư tưởng cách mạng không ngừng đòi hỏi Việt Nam vừa kiên định, vừa sáng tạo. Kiên định là giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vai trò lãnh đạo của Đảng và lợi ích quốc gia - dân tộc. Sáng tạo là chủ động hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học - công nghệ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế. Mỗi bước phát triển phải tạo tiền đề cho bước cao hơn, tránh cả bảo thủ, trì trệ lẫn nóng vội, duy ý chí.
      Những kết quả đạt được sau 40 năm đổi mới đất nước đều bắt nguồn từ sự trung thành, vận dụng sáng tạo, không ngừng phát triển lý luận cách mạng không ngừng của V.I.Lênin phù hợp với thực tiễn đất nước. Việt Nam từ một nước nghèo, lạc hậu, có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp kém hiệu quả, đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tốc độ tăng trưởng GDP luôn nằm trong nhóm cao của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững vai trò lãnh đạo, hệ thống chính trị ổn định, lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước được củng cố. Từ chính sách “ba không” khép kín, Việt Nam nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, là thành viên tích cực của ASEAN, WTO, Liên Hợp Quốc, ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP…). Việt Nam vừa tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh vững mạnh, vừa giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển là sự kế thừa đúng đắn tư tưởng cách mạng liên tục, không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
       Có thể khẳng định, V.I.Lênin đã bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác và phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng thành một hệ thống lý luận phù hợp với thời đại đế quốc chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc. Giá trị bền vững của lý luận đó đối với Việt Nam không nằm ở việc lặp lại một mô hình có sẵn, mà ở phương pháp kết hợp mục tiêu chiến lược với bước đi cụ thể, kiên định nguyên tắc với đổi mới sáng tạo, tổng kết thực tiễn với phát triển lý luận. Đây là cơ sở để Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện đất nước./.
          Tài liệu tham khảo:
  1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Trung cấp lý luận chính trị: Chủ nghĩa Mác - Lênnin, Nxb, Lý luận chính trị, Hà Nội.
ThS. Đàm Thị Toán
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
 

Những tin cũ hơn

Những tin mới hơn

 
circle-japan

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ HOÀNG ĐÌNH GIONG TỈNH CAO BẰNG
Địa chỉ: Phường Tân Giang, tỉnh Cao Bằng
Điện thoại: 026.3852.864 - 026.3759.488 -  Email: truongcthoangdinhgiong@gmail.com
Chịu trách nhiệm chính: (Bà) Trịnh Thị Ánh Hoa , Hiệu trưởng.
Ghi rõ nguồn (www.truongchinhtri.caobang.gov.vn) khi phát hành lại thông tin từ địa chỉ này.