
- Nghiên cứu khoa học

NHẬN DIỆN NHỮNG THÁCH THỨC TRONG GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH CAO BẰNG TRONG KỶ NGUYÊN SỐ
Thứ ba - 25/08/2026 10:11
Giảm nghèo đa chiều là nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển bền vững ở tỉnh Cao Bằng. Với đặc thù là tỉnh miền núi, biên giới, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 96%, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, công tác giảm nghèo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thời gian qua, tỉnh đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ sinh kế, sản xuất, giáo dục, y tế, nhà ở, việc làm và dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần cải thiện đời sống người dân. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao, 32,07%, và kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững. Trong bối cảnh chuyển đổi số, người dân có thêm cơ hội tiếp cận thông tin, giáo dục, y tế, việc làm, dịch vụ công và thị trường. Tuy nhiên, sự chênh lệch về khả năng tiếp cận công nghệ, năng lực số và điều kiện tham gia môi trường số có thể tạo ra những dạng thiếu hụt mới. Vì vậy, cần có giải pháp phù hợp để thu hẹp khoảng cách số, nâng cao năng lực tiếp cận và khai thác công nghệ, qua đó biến chuyển đổi số thành động lực thúc đẩy giảm nghèo đa chiều, bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng.
1. Nhận diện những thách thức của giảm nghèo đa chiều ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng trong kỷ nguyên số
Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội để người dân tiếp cận tri thức, thị trường và các dịch vụ công, qua đó nâng cao hiệu quả giảm nghèo đa chiều. Tuy nhiên, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng, những lợi ích này chưa được thụ hưởng đồng đều. Các rào cản về hạ tầng, năng lực số, môi trường thông tin và cơ chế thực thi chính sách đang trở thành những điểm nghẽn mới, không chỉ cản trở quá trình chuyển đổi số mà còn làm gia tăng các chiều thiếu hụt, hạn chế cơ hội phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giảm nghèo bền vững.
Thứ nhất, khoảng cách số do hạn chế về hạ tầng kết nối đang trở thành một chiều thiếu hụt mới của nghèo đa chiều. Với đặc thù địa hình miền núi, chi phí đầu tư và vận hành hạ tầng viễn thông lớn, chất lượng kết nối Internet ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu ổn định. Bên cạnh đó, chi phí thiết bị thông minh và cước dữ liệu vẫn là gánh nặng đối với nhiều hộ nghèo. Điều này không chỉ làm hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ mà còn khiến người dân mất cơ hội sử dụng dịch vụ công trực tuyến, khám chữa bệnh từ xa, học tập trực tuyến và tham gia các nền tảng thương mại điện tử để tiêu thụ nông sản. Khoảng cách số vì vậy trực tiếp làm gia tăng sự thiếu hụt về thông tin, việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, làm giảm hiệu quả của công tác giảm nghèo đa chiều.
Thứ hai, hạn chế về kỹ năng số và năng lực thích ứng với môi trường số làm giảm khả năng tạo sinh kế bền vững của người nghèo. Thực tế cho thấy nhiều người dân mới chỉ sử dụng Internet cho mục đích giải trí cơ bản (như xem video, lướt mạng xã hội), trong khi kỹ năng khai thác thông tin thị trường, ứng dụng khoa học kỹ thuật, quảng bá sản phẩm hay kinh doanh trên nền tảng số còn rất hạn chế. Điều này khiến họ khó chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang kinh tế số, tiếp tục phụ thuộc vào các kênh tiêu thụ trung gian và đối mặt với tình trạng “được mùa, mất giá”. Đồng thời, hạn chế về kỹ năng số cũng làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của lừa đảo trực tuyến, tín dụng đen và các thông tin xấu, độc trên không gian mạng. Theo Công an tỉnh Cao Bằng, trong 6 tháng đầu năm 2026, đã phát hiện 37 vụ, 40 đối tượng đánh bạc trên không gian mạng với số tiền trên 785 triệu đồng; đồng thời phát hiện, xử lý 1 vụ với 68 đối tượng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, với số tiền chiếm đoạt bước đầu xác định khoảng 2.300 tỷ đồng… Những bẫy thông tin này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, mà còn có thể làm mất đi thành quả giảm nghèo đã đạt được, khiến nhiều hộ gia đình có nguy cơ tái nghèo.
Thứ ba, rào cản ngôn ngữ và sự thiếu hụt nội dung số phù hợp với văn hóa bản địa làm hạn chế khả năng tiếp cận cơ hội phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số. Phần lớn các nền tảng số hiện nay được thiết kế bằng tiếng phổ thông, trong khi nhiều người dân, nhất là người cao tuổi và phụ nữ vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn trong sử dụng. Việc thiếu các nội dung số bằng tiếng dân tộc (Lô lô, Sán chỉ, Mông, Dao...) và các ứng dụng phù hợp với đặc điểm văn hóa địa phương khiến người dân khó tiếp cận kiến thức sản xuất, giáo dục, y tế và các chính sách hỗ trợ. Mặt khác, nếu không gắn chuyển đổi số với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc địa phương sẽ khó trở thành nguồn lực phát triển du lịch, sản phẩm OCOP và các mô hình sinh kế đặc thù. Đây là rào cản làm suy giảm năng lực tự phát triển của cộng đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của công tác giảm nghèo.
Thứ tư, sự thiếu đồng bộ giữa chính sách giảm nghèo và chuyển đổi số làm hạn chế hiệu quả phát huy nguồn lực hỗ trợ người nghèo. Trong thực tế, nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế vẫn chủ yếu tập trung vào cấp vốn, giống cây trồng, vật nuôi hoặc đầu tư cơ sở vật chất mà chưa gắn chặt với việc trang bị kỹ năng số, hướng dẫn ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quản trị và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, năng lực truyền thông và hướng dẫn chuyển đổi số của đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế, dẫn đến việc phổ biến chính sách, hỗ trợ người dân khai thác các nền tảng số chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Sự thiếu gắn kết giữa chính sách giảm nghèo và chuyển đổi số làm giảm khả năng phát huy nội lực của người dân, khiến nhiều hộ nghèo chưa thể chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị số và nâng cao thu nhập một cách bền vững.
2. Định hướng giải pháp phát huy vai trò của chuyển đổi số trong giảm nghèo đa chiều ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng
Từ những thách thức nêu trên cho thấy, chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực giảm nghèo khi được đặt trong tổng thể chính sách giảm nghèo đa chiều và hướng trực tiếp vào việc khắc phục các thiếu hụt của người dân. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy hỗ trợ người nghèo tiếp cận công nghệ sang sử dụng công nghệ như một công cụ mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, dịch vụ xã hội, sinh kế và thị trường; đồng thời nâng cao năng lực chủ thể để người dân tự vươn lên thoát nghèo.
Một là, sử dụng chuyển đổi số để giảm thiếu hụt thông tin và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cần phát huy hệ thống truyền thông cơ sở, Tổ công nghệ số cộng đồng và phong trào “Bình dân học vụ số” để đưa thông tin về chính sách giảm nghèo, giáo dục, y tế, việc làm, đào tạo nghề và hỗ trợ sản xuất đến tận thôn, bản. Nội dung cần được thiết kế ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu và phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa của đồng bào. Đồng thời, từng bước ứng dụng các nền tảng số, AI và các hình thức truyền thông trực quan để hỗ trợ người dân tra cứu, tiếp nhận và sử dụng thông tin. Khi người nghèo có khả năng tiếp cận đầy đủ, kịp thời các nguồn thông tin và dịch vụ xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu hụt đa chiều sẽ từng bước được khắc phục.
Hai là, sử dụng hạ tầng và thiết bị số như một công cụ mở rộng cơ hội sinh kế, việc làm và tăng thu nhập cho hộ nghèo. Ưu tiên thu hẹp khoảng cách số tại các địa bàn còn khó khăn về kết nối; đồng thời có cơ chế hỗ trợ phù hợp về thiết bị và chi phí truy cập cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tuy nhiên, hỗ trợ cần gắn với hướng dẫn sử dụng để người dân có thể khai thác công nghệ phục vụ sản xuất và kinh doanh, thay vì chỉ tiếp cận Internet cho mục đích giải trí. Thông qua nền tảng số, người dân có thể tiếp cận thông tin thị trường, dự báo thời tiết, kiến thức khuyến nông, quảng bá và tiêu thụ nông sản, tìm kiếm việc làm và mở rộng khách hàng. Như vậy, đầu tư hạ tầng số không chỉ nhằm hoàn thiện hạ tầng công nghệ mà trực tiếp góp phần giải quyết thiếu hụt về thu nhập và sinh kế, nâng cao khả năng tự chủ kinh tế của hộ nghèo.
Ba là, nâng cao năng lực số để tăng khả năng tự vươn lên và phòng ngừa tái nghèo. Cần tiếp tục triển khai “Bình dân học vụ số” theo hướng thiết thực, lấy nhu cầu của người nghèo làm trung tâm. Nội dung đào tạo không chỉ dừng ở các kỹ năng sử dụng thiết bị mà cần tập trung vào những kỹ năng có khả năng tạo ra giá trị kinh tế và bảo vệ thành quả lao động như tìm kiếm thông tin thị trường, bán hàng trực tuyến, sử dụng dịch vụ công, thanh toán số và nhận diện các hình thức lừa đảo trên mạng. Tổ công nghệ số cộng đồng cần chuyển mạnh từ tuyên truyền sang hướng dẫn trực tiếp, “cầm tay chỉ việc” cho những nhóm khó tiếp cận công nghệ. Qua đó, chuyển đổi số trở thành phương tiện nâng cao năng lực của người dân, giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước và hạn chế nguy cơ tái nghèo do thiếu thông tin hoặc rủi ro trên không gian mạng.
Bốn là, khai thác giá trị văn hóa bản địa và chuyển đổi số để tạo sinh kế đặc thù, giảm nghèo bền vững. Cần tăng cường số hóa di sản, xây dựng nội dung đa ngữ và quảng bá các giá trị văn hóa (video ngắn, podcast… bằng tiếng Lô Lô, Sán Chỉ, Mông, Dao), sản phẩm đặc trưng, du lịch cộng đồng và sản phẩm OCOP trên môi trường số. Khuyến khích thanh niên dân tộc thiểu số trở thành những chủ thể sáng tạo nội dung, quảng bá văn hóa và sản phẩm địa phương. Cách tiếp cận này vừa nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của đồng bào, vừa chuyển tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập. Đồng thời, việc đưa nội dung văn hóa bản địa lên không gian số góp phần củng cố bản sắc, tăng tính hấp dẫn của sản phẩm địa phương và tạo nền tảng cho các mô hình sinh kế gắn với du lịch, thương mại và kinh tế sáng tạo.
Năm là, tích hợp chuyển đổi số vào toàn bộ quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo. Các chương trình hỗ trợ vốn, giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nghề và phát triển sản xuất cần gắn với hướng dẫn người dân sử dụng dữ liệu, công nghệ và nền tảng số trong quản lý sản xuất, dự báo thị trường và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ cơ sở để bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, được hướng dẫn đúng cách và tạo ra kết quả thực chất. Sự tích hợp này giúp chuyển phương thức giảm nghèo từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển năng lực, từ hỗ trợ đầu vào sang tạo cơ hội tiếp cận thị trường và từ hỗ trợ ngắn hạn sang xây dựng sinh kế bền vững.
Như vậy, trọng tâm của giảm nghèo đa chiều trong kỷ nguyên số không phải là đưa càng nhiều công nghệ đến với người dân, mà là sử dụng công nghệ để giải quyết những thiếu hụt đang cản trở quá trình thoát nghèo. Khi hạ tầng số giúp mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ, kỹ năng số giúp nâng cao năng lực tạo sinh kế, nền tảng số giúp kết nối thị trường và chuyển đổi số được tích hợp vào chính sách giảm nghèo, người dân sẽ từng bước chuyển từ đối tượng thụ hưởng sang chủ thể của quá trình phát triển. Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa quan trọng để Cao Bằng thu hẹp khoảng cách số, giảm nghèo đa chiều và tạo nền tảng cho giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.
Kỷ nguyên số mở ra nhiều cơ hội để người dân tiếp cận tri thức, thị trường và các dịch vụ công, qua đó nâng cao hiệu quả giảm nghèo đa chiều. Tuy nhiên, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng, những lợi ích này chưa được thụ hưởng đồng đều. Các rào cản về hạ tầng, năng lực số, môi trường thông tin và cơ chế thực thi chính sách đang trở thành những điểm nghẽn mới, không chỉ cản trở quá trình chuyển đổi số mà còn làm gia tăng các chiều thiếu hụt, hạn chế cơ hội phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giảm nghèo bền vững.
Thứ nhất, khoảng cách số do hạn chế về hạ tầng kết nối đang trở thành một chiều thiếu hụt mới của nghèo đa chiều. Với đặc thù địa hình miền núi, chi phí đầu tư và vận hành hạ tầng viễn thông lớn, chất lượng kết nối Internet ở nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thiếu ổn định. Bên cạnh đó, chi phí thiết bị thông minh và cước dữ liệu vẫn là gánh nặng đối với nhiều hộ nghèo. Điều này không chỉ làm hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ mà còn khiến người dân mất cơ hội sử dụng dịch vụ công trực tuyến, khám chữa bệnh từ xa, học tập trực tuyến và tham gia các nền tảng thương mại điện tử để tiêu thụ nông sản. Khoảng cách số vì vậy trực tiếp làm gia tăng sự thiếu hụt về thông tin, việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, làm giảm hiệu quả của công tác giảm nghèo đa chiều.
Thứ hai, hạn chế về kỹ năng số và năng lực thích ứng với môi trường số làm giảm khả năng tạo sinh kế bền vững của người nghèo. Thực tế cho thấy nhiều người dân mới chỉ sử dụng Internet cho mục đích giải trí cơ bản (như xem video, lướt mạng xã hội), trong khi kỹ năng khai thác thông tin thị trường, ứng dụng khoa học kỹ thuật, quảng bá sản phẩm hay kinh doanh trên nền tảng số còn rất hạn chế. Điều này khiến họ khó chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang kinh tế số, tiếp tục phụ thuộc vào các kênh tiêu thụ trung gian và đối mặt với tình trạng “được mùa, mất giá”. Đồng thời, hạn chế về kỹ năng số cũng làm gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân của lừa đảo trực tuyến, tín dụng đen và các thông tin xấu, độc trên không gian mạng. Theo Công an tỉnh Cao Bằng, trong 6 tháng đầu năm 2026, đã phát hiện 37 vụ, 40 đối tượng đánh bạc trên không gian mạng với số tiền trên 785 triệu đồng; đồng thời phát hiện, xử lý 1 vụ với 68 đối tượng sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản, với số tiền chiếm đoạt bước đầu xác định khoảng 2.300 tỷ đồng… Những bẫy thông tin này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, mà còn có thể làm mất đi thành quả giảm nghèo đã đạt được, khiến nhiều hộ gia đình có nguy cơ tái nghèo.
Thứ ba, rào cản ngôn ngữ và sự thiếu hụt nội dung số phù hợp với văn hóa bản địa làm hạn chế khả năng tiếp cận cơ hội phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số. Phần lớn các nền tảng số hiện nay được thiết kế bằng tiếng phổ thông, trong khi nhiều người dân, nhất là người cao tuổi và phụ nữ vùng sâu, vùng xa còn gặp khó khăn trong sử dụng. Việc thiếu các nội dung số bằng tiếng dân tộc (Lô lô, Sán chỉ, Mông, Dao...) và các ứng dụng phù hợp với đặc điểm văn hóa địa phương khiến người dân khó tiếp cận kiến thức sản xuất, giáo dục, y tế và các chính sách hỗ trợ. Mặt khác, nếu không gắn chuyển đổi số với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc địa phương sẽ khó trở thành nguồn lực phát triển du lịch, sản phẩm OCOP và các mô hình sinh kế đặc thù. Đây là rào cản làm suy giảm năng lực tự phát triển của cộng đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của công tác giảm nghèo.
Thứ tư, sự thiếu đồng bộ giữa chính sách giảm nghèo và chuyển đổi số làm hạn chế hiệu quả phát huy nguồn lực hỗ trợ người nghèo. Trong thực tế, nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế vẫn chủ yếu tập trung vào cấp vốn, giống cây trồng, vật nuôi hoặc đầu tư cơ sở vật chất mà chưa gắn chặt với việc trang bị kỹ năng số, hướng dẫn ứng dụng công nghệ trong sản xuất, quản trị và tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, năng lực truyền thông và hướng dẫn chuyển đổi số của đội ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế, dẫn đến việc phổ biến chính sách, hỗ trợ người dân khai thác các nền tảng số chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Sự thiếu gắn kết giữa chính sách giảm nghèo và chuyển đổi số làm giảm khả năng phát huy nội lực của người dân, khiến nhiều hộ nghèo chưa thể chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị số và nâng cao thu nhập một cách bền vững.
2. Định hướng giải pháp phát huy vai trò của chuyển đổi số trong giảm nghèo đa chiều ở vùng dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng
Từ những thách thức nêu trên cho thấy, chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực giảm nghèo khi được đặt trong tổng thể chính sách giảm nghèo đa chiều và hướng trực tiếp vào việc khắc phục các thiếu hụt của người dân. Vì vậy, cần chuyển từ tư duy hỗ trợ người nghèo tiếp cận công nghệ sang sử dụng công nghệ như một công cụ mở rộng cơ hội tiếp cận thông tin, dịch vụ xã hội, sinh kế và thị trường; đồng thời nâng cao năng lực chủ thể để người dân tự vươn lên thoát nghèo.
Một là, sử dụng chuyển đổi số để giảm thiếu hụt thông tin và mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Cần phát huy hệ thống truyền thông cơ sở, Tổ công nghệ số cộng đồng và phong trào “Bình dân học vụ số” để đưa thông tin về chính sách giảm nghèo, giáo dục, y tế, việc làm, đào tạo nghề và hỗ trợ sản xuất đến tận thôn, bản. Nội dung cần được thiết kế ngắn gọn, trực quan, dễ hiểu và phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa của đồng bào. Đồng thời, từng bước ứng dụng các nền tảng số, AI và các hình thức truyền thông trực quan để hỗ trợ người dân tra cứu, tiếp nhận và sử dụng thông tin. Khi người nghèo có khả năng tiếp cận đầy đủ, kịp thời các nguồn thông tin và dịch vụ xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu hụt đa chiều sẽ từng bước được khắc phục.
Hai là, sử dụng hạ tầng và thiết bị số như một công cụ mở rộng cơ hội sinh kế, việc làm và tăng thu nhập cho hộ nghèo. Ưu tiên thu hẹp khoảng cách số tại các địa bàn còn khó khăn về kết nối; đồng thời có cơ chế hỗ trợ phù hợp về thiết bị và chi phí truy cập cho hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tuy nhiên, hỗ trợ cần gắn với hướng dẫn sử dụng để người dân có thể khai thác công nghệ phục vụ sản xuất và kinh doanh, thay vì chỉ tiếp cận Internet cho mục đích giải trí. Thông qua nền tảng số, người dân có thể tiếp cận thông tin thị trường, dự báo thời tiết, kiến thức khuyến nông, quảng bá và tiêu thụ nông sản, tìm kiếm việc làm và mở rộng khách hàng. Như vậy, đầu tư hạ tầng số không chỉ nhằm hoàn thiện hạ tầng công nghệ mà trực tiếp góp phần giải quyết thiếu hụt về thu nhập và sinh kế, nâng cao khả năng tự chủ kinh tế của hộ nghèo.
Ba là, nâng cao năng lực số để tăng khả năng tự vươn lên và phòng ngừa tái nghèo. Cần tiếp tục triển khai “Bình dân học vụ số” theo hướng thiết thực, lấy nhu cầu của người nghèo làm trung tâm. Nội dung đào tạo không chỉ dừng ở các kỹ năng sử dụng thiết bị mà cần tập trung vào những kỹ năng có khả năng tạo ra giá trị kinh tế và bảo vệ thành quả lao động như tìm kiếm thông tin thị trường, bán hàng trực tuyến, sử dụng dịch vụ công, thanh toán số và nhận diện các hình thức lừa đảo trên mạng. Tổ công nghệ số cộng đồng cần chuyển mạnh từ tuyên truyền sang hướng dẫn trực tiếp, “cầm tay chỉ việc” cho những nhóm khó tiếp cận công nghệ. Qua đó, chuyển đổi số trở thành phương tiện nâng cao năng lực của người dân, giảm sự phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước và hạn chế nguy cơ tái nghèo do thiếu thông tin hoặc rủi ro trên không gian mạng.
Bốn là, khai thác giá trị văn hóa bản địa và chuyển đổi số để tạo sinh kế đặc thù, giảm nghèo bền vững. Cần tăng cường số hóa di sản, xây dựng nội dung đa ngữ và quảng bá các giá trị văn hóa (video ngắn, podcast… bằng tiếng Lô Lô, Sán Chỉ, Mông, Dao), sản phẩm đặc trưng, du lịch cộng đồng và sản phẩm OCOP trên môi trường số. Khuyến khích thanh niên dân tộc thiểu số trở thành những chủ thể sáng tạo nội dung, quảng bá văn hóa và sản phẩm địa phương. Cách tiếp cận này vừa nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của đồng bào, vừa chuyển tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập. Đồng thời, việc đưa nội dung văn hóa bản địa lên không gian số góp phần củng cố bản sắc, tăng tính hấp dẫn của sản phẩm địa phương và tạo nền tảng cho các mô hình sinh kế gắn với du lịch, thương mại và kinh tế sáng tạo.
Năm là, tích hợp chuyển đổi số vào toàn bộ quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo. Các chương trình hỗ trợ vốn, giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nghề và phát triển sản xuất cần gắn với hướng dẫn người dân sử dụng dữ liệu, công nghệ và nền tảng số trong quản lý sản xuất, dự báo thị trường và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ cơ sở để bảo đảm chính sách đến đúng đối tượng, được hướng dẫn đúng cách và tạo ra kết quả thực chất. Sự tích hợp này giúp chuyển phương thức giảm nghèo từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển năng lực, từ hỗ trợ đầu vào sang tạo cơ hội tiếp cận thị trường và từ hỗ trợ ngắn hạn sang xây dựng sinh kế bền vững.
Như vậy, trọng tâm của giảm nghèo đa chiều trong kỷ nguyên số không phải là đưa càng nhiều công nghệ đến với người dân, mà là sử dụng công nghệ để giải quyết những thiếu hụt đang cản trở quá trình thoát nghèo. Khi hạ tầng số giúp mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ, kỹ năng số giúp nâng cao năng lực tạo sinh kế, nền tảng số giúp kết nối thị trường và chuyển đổi số được tích hợp vào chính sách giảm nghèo, người dân sẽ từng bước chuyển từ đối tượng thụ hưởng sang chủ thể của quá trình phát triển. Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa quan trọng để Cao Bằng thu hẹp khoảng cách số, giảm nghèo đa chiều và tạo nền tảng cho giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.
ThS. Bế Thị Hương
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở