
- Nghiên cứu khoa học

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ NÔNG SẢN ĐẶC HỮU TẠI TỈNH CAO BẰNG
Thứ năm - 07/05/2026 13:51
Tại Cao Bằng, việc chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết để phát huy vị thế địa phương. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX đã xác định rõ mục tiêu hình thành các chuỗi sản phẩm đặc sản gắn với thương hiệu Cao Bằng xanh. Tuy nhiên, tiềm năng nông sản đặc hữu của Cao Bằng hiện vẫn chưa được khai thác tương xứng, giá trị gia tăng còn thấp. Vì vậy, phát triển chuỗi giá trị nông sản đặc hữu là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững của tỉnh.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc ( FAO, 2010): “Chuỗi giá trị nông sản bao gồm tập hợp các tác nhân và hoạt động đưa một sản phẩm nông sản từ sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, theo đó, giá trị của sản phẩm được gia tăng trong mỗi khâu trung gian”[1]. Thực tế tại Cao Bằng cho thấy, hiệu quả kinh tế mà người nông dân Cao Bằng nhận được từ khâu canh tác thô là rất hạn chế so với tổng giá trị của chuỗi cung ứng. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở sự thiếu gắn kết giữa hộ sản xuất với các đơn vị chế biến và tiêu thụ. Việc thiếu liên kết trong chuỗi giá trị nông sản đã kìm hãm khả năng nâng cao thu nhập bền vững của cư dân nông thôn.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX đã cụ thể hóa bằng mục tiêu chiến lược tiến tới hình thành chuỗi sản phẩm nông nghiệp đặc sản, có chỉ dẫn địa lý gắn với xây dựng và quảng bá thương hiệu “Cao Bằng xanh”. Đẩy mạnh chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) theo hướng hình thành chuỗi giá trị sản xuất, chế biến, tiêu thụ, gắn với xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường. Đây được xem là hạt nhân để phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo hướng thực chất, bền vững.[2] Tầm nhìn về kinh tế nông nghiệp của tỉnh nay đã có hành lang pháp lý từ Trung ương. Cụ thể, các quy định về vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ đã trở thành yêu cầu tiên quyết để nông sản đủ điều kiện gia nhập thị trường chính ngạch.
Cao bằng có 24 nguồn gen cây trồng đặc sản bao gồm 10 nguồn gen cây lương thực, thực phẩm; 9 nguồn gen cây ăn quả; 5 nguồn gen cây lâm nghiệp và cây trồng lâu năm cùng 10 giống động vật nuôi bản địa có chất lượng vượt trội. [3] Đây chính nguồn nghiên liệu đầu vào có tính đặc thù cao, tạo tiền đề vững chắc hình thành các chuỗi nông sản đặc hữu mang thương hiệu địa phương như: Hạt dẻ Trùng Khánh, Thạch đen Thạch An, Miến dong Nguyên Bình, Lê Đông Khê hay các dòng sản phẩm từ chăn nuôi bản địa. Việc khai thác hiệu quả nguồn gen này không chỉ giúp nông sản đặc hữu đạt các tiêu chuẩn khắt khe để thâm nhập thị trường khó tính, mà còn bảo tồn được đa dạng sinh học và nâng cao năng lực tự chủ cho cộng đồng dân cư nông thôn.
Một số vùng sản xuất hàng hóa được hình thành với liên kết “4 nhà” tương đối rõ nét, như: Vùng thuốc lá, vùng mía, vùng sắn, vùng trúc sào, vùng cây quế, hồi phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh, một số tỉnh lân cận và thị trường Trung Quốc. Phương thức sản xuất nông nghiệp chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất các sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với yêu cầu của thị trường: Toàn tỉnh có khoảng 750 ha cây trồng sản xuất theo quy trình nông nghiệp hữu cơ hoặc theo hướng hữu cơ; 92,6 ha cây trồng và 85 đơn vị vật nuôi được chứng nhận VietGAP; nhiều sản phẩm OCOP của tỉnh đã khẳng định được vị trí trên thị trường trong và ngoài tỉnh ; các sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn gắn với lợi thế về điều kiện sản xuất, vùng nguyên liệu và văn hóa truyền thống được phát huy để gia tăng giá trị sản phẩm. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 174 sản phẩm OCOP được công nhận đạt từ 3 sao trở lên, trong đó 10 sản phẩm đạt 4 sao, khơi dậy được tiềm năng, thế mạnh của các địa phương trong tỉnh. Đã triển khai trồng mới 4.536,09 ha rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,06%; hỗ trợ thực hiện 130 kế hoạch phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị; tập trung hỗ trợ các cây, con chủ lực, nông sản đặc hữu, đặc sản của địa phương; qua đó, năng suất, chất lượng nhiều loại cây trồng, vật nuôi được nâng lên, xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất hiệu quả. Các mô hình khuyến nông cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu, tiêu chí đã đề ra về năng suất, chất lượng sản phẩm, mô hình sản xuất theo hướng hàng hóa gắn với liên kết và tiêu thụ sản phẩm, giúp người dân nâng cao kỹ thuật canh tác, làm thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực, được người dân đánh giá cao.[4]
Tính đến cuối năm 2025, tỉnh đã hình thành được 141 dự án hỗ trợ sản xuất trong đó có 14 kế hoạch liên kết và 126 dự án cộng đồng đang đóng vai trò dẫn dắt. Sự xuất hiện của 20 dự án lĩnh vực nông nghiệp về các nội dung như, chăn nuôi, sản xuất và chế biến, phát triển cây dược liệu,….[5] là minh chứng cho nỗ lực thu hút doanh nghiệp vào chuỗi giá trị.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản tại Cao Bằng vẫn đang đối mặt với những tồn tại, hạn chế. Phương thức sản xuất còn manh mún, thiếu sự liên kết bền vững để hình thành các vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế (GlobalGAP, Organic) gây khó khăn cho việc cung ứng hàng hóa sản lượng lớn. Đáng chú ý, tình trạng đứt gãy trong khâu chế biến khiến,nông sản vẫn xuất bán dạng thô; sự thiếu hụt công nghệ tinh chế đồng bộ. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế chỉ được đào tạo ngắn hạn, kết hợp với hạ tầng logistics miền núi hiểm trở đã đẩy chi phí vận chuyển lên cao, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản địa phương. Hoạt động liên kết tiêu thụ sản phẩm bước đầu được hình thành, song vẫn thiếu tính ổn định và chưa đảm bảo bền vững. Nhiều sản phẩm đặc sản, đặc hữu của tỉnh chưa được xây dựng thương hiệu mạnh, chưa đạt chứng nhận chất lượng cao để mở rộng thị trường. Từ đó cho thấy các mô hình hỗ trợ hiện tại dù rộng về số lượng nhưng chưa đủ độ sâu để tạo ra sự phát triển bền vững cho cộng đồng.
Để phát triển chuỗi giá trị nông sản đặc hữu tại tại tỉnh Cao Bằng cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tập trung quy hoạch và chuẩn hóa vùng nguyên liệu tập trung. Để khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tỉnh cần ưu tiên tối ưu hóa các nguồn vốn đầu tư công để chuẩn hóa vùng nguyên liệu. Trọng tâm là chuyển dịch từ các mô hình hỗ trợ cộng đồng đơn lẻ sang các kế hoạch liên kết quy mô lớn, hình thành các vùng nguyên liệu đặc hữu đạt tiêu chuẩn GlobalGAP, Organic hoặc được cấp mã số vùng trồng. Việc chuẩn hóa đầu vào cho các sản phẩm chủ lực là điều kiện tiên quyết để nông sản Cao Bằng vượt qua các rào cản kỹ thuật, thâm nhập sâu vào hệ thống phân phối hiện đại và các thị trường khó tính.
Thứ hai, đẩy mạnh công nghệ chế biến sâu và chuẩn hóa chất lượng số để phá vỡ nút thắt về giá trị gia tăng và chi phí logistics. Với thực trạng nông sản hiện đang xuất bán dạng thô, giải pháp đột phá nằm ở việc thực thi hiệu quả chính sách thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến, dược liệu đã được kêu gọi. Việc khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà máy tinh chế ngay tại vùng nguyên liệu không chỉ giúp nâng hạng sản phẩm OCOP từ 3 sao lên 4, 5 sao mà còn là phương án tối ưu để giảm khối lượng vận chuyển thô. Đặc biệt, cần gắn liền quá trình chế biến với việc áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc thông minh qua mã QR. Điều này giúp minh bạch hóa toàn bộ hành trình của nông sản từ vùng trồng đặc hữu đến tay người dùng, khẳng định giá trị thương hiệu “Cao Bằng xanh” và tạo niềm tin tuyệt đối cho các thị trường phân phối hiện đại.
Thứ ba, nâng cao năng lực chủ thể kinh tế tập thể và chất lượng nguồn nhân lực. Cần xác định 177 Hợp tác xã nông nghiệp hiện có là mắt xích trung tâm trong việc quản trị chuỗi giá trị. Thay vì chỉ dừng lại ở dịch vụ đầu vào, các hợp tác xã phải được đào tạo năng lực quản trị chuyên sâu để thực hiện vai trò đại diện hộ nông dân ký kết bao tiêu với doanh nghiệp. Song song đó, cần điều chỉnh cơ cấu đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giảm tỷ trọng đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng để tập trung vào đào tạo dài hạn. Nguồn nhân lực có tay nghề sẽ là lực lượng nòng cốt vận hành các dây chuyền chế biến và ứng dụng chuyển đổi số vào quản lý chất lượng nông sản. Đây cũng là tiền đề để các hợp tác xã làm chủ các sàn thương mại điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc mã QR, giúp nông sản đặc hữu tiếp cận trực tiếp thị trường toàn cầu với chi phí logistics thấp nhất.
Thứ tư, phát triển chuỗi giá trị đa dụng gắn với kinh tế xanh và du lịch. Việc lồng ghép quảng bá các dòng nông sản đặc hữu (thông qua chứng nhận sản phẩm OCOP) gắn với các mô hình du lịch trải nghiệm không chỉ giúp tiêu thụ nông sản tại chỗ và xây dựng thương hiệu. Đây chính là lộ trình thực chất để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, biến nông sản thành “đại sứ văn hóa” của Cao Bằng.
Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước. Tiếp tục cụ thể hóa các nội dung định hướng chiến lược trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX bằng các nghị quyết chuyên đề chuyên sâu về phát triển chuỗi giá trị nông sản đặc hữu, phát huy vai trò tiên phong của đảng viên trong việc dẫn dắt các tổ hợp tác và hợp tác xã. Chính quyền cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường cho doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế đặc thù về vốn và bảo hiểm nông nghiệp cho các chuỗi liên kết đặc hữu.
Tóm lại, thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản đặc hữu là con đường tất yếu để nâng cao thu nhập bền vững cho nông dân Cao Bằng. Những hạn chế về tỷ lệ bán thô cao và số xã đạt tiêu chí thu nhập còn thấp sau rà soát là minh chứng cho thấy cần thay đổi quyết liệt từ hỗ trợ cộng đồng nhỏ lẻ sang liên kết bền vững. Khi các nguồn gen quý được kết tinh bởi công nghệ chế biến và sự dẫn dắt của doanh nghiệp, giá trị kinh tế của nông sản sẽ được khẳng định ngay tại địa phương. Đây chính là chiến lược cốt lõi để đưa nông sản đặc hữu vươn xa, xây dựng vị thế vững chắc cho thương hiệu “Cao Bằng xanh” trên thị trường./.
Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc ( FAO, 2010): “Chuỗi giá trị nông sản bao gồm tập hợp các tác nhân và hoạt động đưa một sản phẩm nông sản từ sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, theo đó, giá trị của sản phẩm được gia tăng trong mỗi khâu trung gian”[1]. Thực tế tại Cao Bằng cho thấy, hiệu quả kinh tế mà người nông dân Cao Bằng nhận được từ khâu canh tác thô là rất hạn chế so với tổng giá trị của chuỗi cung ứng. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở sự thiếu gắn kết giữa hộ sản xuất với các đơn vị chế biến và tiêu thụ. Việc thiếu liên kết trong chuỗi giá trị nông sản đã kìm hãm khả năng nâng cao thu nhập bền vững của cư dân nông thôn.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX đã cụ thể hóa bằng mục tiêu chiến lược tiến tới hình thành chuỗi sản phẩm nông nghiệp đặc sản, có chỉ dẫn địa lý gắn với xây dựng và quảng bá thương hiệu “Cao Bằng xanh”. Đẩy mạnh chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) theo hướng hình thành chuỗi giá trị sản xuất, chế biến, tiêu thụ, gắn với xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường. Đây được xem là hạt nhân để phấn đấu nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới theo hướng thực chất, bền vững.[2] Tầm nhìn về kinh tế nông nghiệp của tỉnh nay đã có hành lang pháp lý từ Trung ương. Cụ thể, các quy định về vùng nguyên liệu tập trung gắn với chế biến và tiêu thụ đã trở thành yêu cầu tiên quyết để nông sản đủ điều kiện gia nhập thị trường chính ngạch.
Cao bằng có 24 nguồn gen cây trồng đặc sản bao gồm 10 nguồn gen cây lương thực, thực phẩm; 9 nguồn gen cây ăn quả; 5 nguồn gen cây lâm nghiệp và cây trồng lâu năm cùng 10 giống động vật nuôi bản địa có chất lượng vượt trội. [3] Đây chính nguồn nghiên liệu đầu vào có tính đặc thù cao, tạo tiền đề vững chắc hình thành các chuỗi nông sản đặc hữu mang thương hiệu địa phương như: Hạt dẻ Trùng Khánh, Thạch đen Thạch An, Miến dong Nguyên Bình, Lê Đông Khê hay các dòng sản phẩm từ chăn nuôi bản địa. Việc khai thác hiệu quả nguồn gen này không chỉ giúp nông sản đặc hữu đạt các tiêu chuẩn khắt khe để thâm nhập thị trường khó tính, mà còn bảo tồn được đa dạng sinh học và nâng cao năng lực tự chủ cho cộng đồng dân cư nông thôn.
Một số vùng sản xuất hàng hóa được hình thành với liên kết “4 nhà” tương đối rõ nét, như: Vùng thuốc lá, vùng mía, vùng sắn, vùng trúc sào, vùng cây quế, hồi phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong tỉnh, một số tỉnh lân cận và thị trường Trung Quốc. Phương thức sản xuất nông nghiệp chuyển dần từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất các sản phẩm hàng hóa theo tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với yêu cầu của thị trường: Toàn tỉnh có khoảng 750 ha cây trồng sản xuất theo quy trình nông nghiệp hữu cơ hoặc theo hướng hữu cơ; 92,6 ha cây trồng và 85 đơn vị vật nuôi được chứng nhận VietGAP; nhiều sản phẩm OCOP của tỉnh đã khẳng định được vị trí trên thị trường trong và ngoài tỉnh ; các sản phẩm đặc sản, ngành nghề nông thôn gắn với lợi thế về điều kiện sản xuất, vùng nguyên liệu và văn hóa truyền thống được phát huy để gia tăng giá trị sản phẩm. Đến hết năm 2025, toàn tỉnh có 174 sản phẩm OCOP được công nhận đạt từ 3 sao trở lên, trong đó 10 sản phẩm đạt 4 sao, khơi dậy được tiềm năng, thế mạnh của các địa phương trong tỉnh. Đã triển khai trồng mới 4.536,09 ha rừng, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 55,06%; hỗ trợ thực hiện 130 kế hoạch phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị; tập trung hỗ trợ các cây, con chủ lực, nông sản đặc hữu, đặc sản của địa phương; qua đó, năng suất, chất lượng nhiều loại cây trồng, vật nuôi được nâng lên, xây dựng và nhân rộng nhiều mô hình sản xuất ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất hiệu quả. Các mô hình khuyến nông cơ bản đã đáp ứng được mục tiêu, tiêu chí đã đề ra về năng suất, chất lượng sản phẩm, mô hình sản xuất theo hướng hàng hóa gắn với liên kết và tiêu thụ sản phẩm, giúp người dân nâng cao kỹ thuật canh tác, làm thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa thị trường, đem lại hiệu quả kinh tế thiết thực, được người dân đánh giá cao.[4]
Tính đến cuối năm 2025, tỉnh đã hình thành được 141 dự án hỗ trợ sản xuất trong đó có 14 kế hoạch liên kết và 126 dự án cộng đồng đang đóng vai trò dẫn dắt. Sự xuất hiện của 20 dự án lĩnh vực nông nghiệp về các nội dung như, chăn nuôi, sản xuất và chế biến, phát triển cây dược liệu,….[5] là minh chứng cho nỗ lực thu hút doanh nghiệp vào chuỗi giá trị.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản tại Cao Bằng vẫn đang đối mặt với những tồn tại, hạn chế. Phương thức sản xuất còn manh mún, thiếu sự liên kết bền vững để hình thành các vùng nguyên liệu đạt chuẩn quốc tế (GlobalGAP, Organic) gây khó khăn cho việc cung ứng hàng hóa sản lượng lớn. Đáng chú ý, tình trạng đứt gãy trong khâu chế biến khiến,nông sản vẫn xuất bán dạng thô; sự thiếu hụt công nghệ tinh chế đồng bộ. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế chỉ được đào tạo ngắn hạn, kết hợp với hạ tầng logistics miền núi hiểm trở đã đẩy chi phí vận chuyển lên cao, làm giảm sức cạnh tranh của nông sản địa phương. Hoạt động liên kết tiêu thụ sản phẩm bước đầu được hình thành, song vẫn thiếu tính ổn định và chưa đảm bảo bền vững. Nhiều sản phẩm đặc sản, đặc hữu của tỉnh chưa được xây dựng thương hiệu mạnh, chưa đạt chứng nhận chất lượng cao để mở rộng thị trường. Từ đó cho thấy các mô hình hỗ trợ hiện tại dù rộng về số lượng nhưng chưa đủ độ sâu để tạo ra sự phát triển bền vững cho cộng đồng.
Để phát triển chuỗi giá trị nông sản đặc hữu tại tại tỉnh Cao Bằng cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tập trung quy hoạch và chuẩn hóa vùng nguyên liệu tập trung. Để khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, tỉnh cần ưu tiên tối ưu hóa các nguồn vốn đầu tư công để chuẩn hóa vùng nguyên liệu. Trọng tâm là chuyển dịch từ các mô hình hỗ trợ cộng đồng đơn lẻ sang các kế hoạch liên kết quy mô lớn, hình thành các vùng nguyên liệu đặc hữu đạt tiêu chuẩn GlobalGAP, Organic hoặc được cấp mã số vùng trồng. Việc chuẩn hóa đầu vào cho các sản phẩm chủ lực là điều kiện tiên quyết để nông sản Cao Bằng vượt qua các rào cản kỹ thuật, thâm nhập sâu vào hệ thống phân phối hiện đại và các thị trường khó tính.
Thứ hai, đẩy mạnh công nghệ chế biến sâu và chuẩn hóa chất lượng số để phá vỡ nút thắt về giá trị gia tăng và chi phí logistics. Với thực trạng nông sản hiện đang xuất bán dạng thô, giải pháp đột phá nằm ở việc thực thi hiệu quả chính sách thu hút các dự án đầu tư vào lĩnh vực chế biến, dược liệu đã được kêu gọi. Việc khuyến khích doanh nghiệp xây dựng nhà máy tinh chế ngay tại vùng nguyên liệu không chỉ giúp nâng hạng sản phẩm OCOP từ 3 sao lên 4, 5 sao mà còn là phương án tối ưu để giảm khối lượng vận chuyển thô. Đặc biệt, cần gắn liền quá trình chế biến với việc áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc thông minh qua mã QR. Điều này giúp minh bạch hóa toàn bộ hành trình của nông sản từ vùng trồng đặc hữu đến tay người dùng, khẳng định giá trị thương hiệu “Cao Bằng xanh” và tạo niềm tin tuyệt đối cho các thị trường phân phối hiện đại.
Thứ ba, nâng cao năng lực chủ thể kinh tế tập thể và chất lượng nguồn nhân lực. Cần xác định 177 Hợp tác xã nông nghiệp hiện có là mắt xích trung tâm trong việc quản trị chuỗi giá trị. Thay vì chỉ dừng lại ở dịch vụ đầu vào, các hợp tác xã phải được đào tạo năng lực quản trị chuyên sâu để thực hiện vai trò đại diện hộ nông dân ký kết bao tiêu với doanh nghiệp. Song song đó, cần điều chỉnh cơ cấu đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giảm tỷ trọng đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng để tập trung vào đào tạo dài hạn. Nguồn nhân lực có tay nghề sẽ là lực lượng nòng cốt vận hành các dây chuyền chế biến và ứng dụng chuyển đổi số vào quản lý chất lượng nông sản. Đây cũng là tiền đề để các hợp tác xã làm chủ các sàn thương mại điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc mã QR, giúp nông sản đặc hữu tiếp cận trực tiếp thị trường toàn cầu với chi phí logistics thấp nhất.
Thứ tư, phát triển chuỗi giá trị đa dụng gắn với kinh tế xanh và du lịch. Việc lồng ghép quảng bá các dòng nông sản đặc hữu (thông qua chứng nhận sản phẩm OCOP) gắn với các mô hình du lịch trải nghiệm không chỉ giúp tiêu thụ nông sản tại chỗ và xây dựng thương hiệu. Đây chính là lộ trình thực chất để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng bền vững, biến nông sản thành “đại sứ văn hóa” của Cao Bằng.
Thứ năm, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý nhà nước. Tiếp tục cụ thể hóa các nội dung định hướng chiến lược trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX bằng các nghị quyết chuyên đề chuyên sâu về phát triển chuỗi giá trị nông sản đặc hữu, phát huy vai trò tiên phong của đảng viên trong việc dẫn dắt các tổ hợp tác và hợp tác xã. Chính quyền cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường cho doanh nghiệp, đồng thời xây dựng cơ chế đặc thù về vốn và bảo hiểm nông nghiệp cho các chuỗi liên kết đặc hữu.
Tóm lại, thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản đặc hữu là con đường tất yếu để nâng cao thu nhập bền vững cho nông dân Cao Bằng. Những hạn chế về tỷ lệ bán thô cao và số xã đạt tiêu chí thu nhập còn thấp sau rà soát là minh chứng cho thấy cần thay đổi quyết liệt từ hỗ trợ cộng đồng nhỏ lẻ sang liên kết bền vững. Khi các nguồn gen quý được kết tinh bởi công nghệ chế biến và sự dẫn dắt của doanh nghiệp, giá trị kinh tế của nông sản sẽ được khẳng định ngay tại địa phương. Đây chính là chiến lược cốt lõi để đưa nông sản đặc hữu vươn xa, xây dựng vị thế vững chắc cho thương hiệu “Cao Bằng xanh” trên thị trường./.
CN. Trần Thị Thu Hương
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
Giảng viên khoa Lý luận cơ sở
[1] Xem https://tapchicongthuong.vn/co-so-khoa-hoc-va-kinh-nghiem-thuc-tien-de-phat-trien-chuoi-gia-tri-san-pham-rau-an-toan-cua-tinh-thai-nguyen-98397.htm
[2] Đảng bộ tỉnh Cao Bằng, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XX, nhiệm kỳ 2025-2030, tr.112-113
[3] Xem https://lienhiephoi.caobang.gov.vn/vi/news/dien-dan-tri-thuc/day-manh-ung-dung-khoa-hoc-cong-nghe-trong-san-xuat-nong-nghiep-311.html
[4] Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Chương trình khuyến nông tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2026-2030 ( Ban hành kèm theo quyết định số 417/QĐ-UBND ngày 30/3/2026 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng)
[5] Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng, Báo cáo Kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Cao Bằng năm 2025, Số 102/BC-UBND, ngày 15 tháng 01 năm 2026





