
- Nghiên cứu khoa học

TƯ BẢN CHO VAY TRONG BỘ “TƯ BẢN” CỦA C.MÁC VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG HIỆN NAY
Thứ năm - 07/05/2026 10:34
Trong tiến trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tư bản cho vay luôn giữ vai trò quan trọng trong việc vận hành dòng chảy của cải và thúc đẩy các hoạt động kinh tế - tài chính. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, tư bản cho vay đóng vai trò quan trọng trong việc huy động, phân bổ và sử dụng nguồn vốn nhằm thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng và phát triển kinh tế.
1. Những nội dung cơ bản của tư bản cho vay trong bộ “Tư bản” của C.Mác
Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản được C.Mác phân tích là loại tư bản sinh lợi tức, một hình thái phát sinh từ tư bản công nghiệp. Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản là một bộ phận tư bản công nghiệp được tách ra trong quá trình vận động tuần hoàn của tư bản. Ở đây tư bản không bị biến đổi giá trị, nó chỉ đổi từ tay người này sang tay người khác. Một người có tiền muốn làm cho tiền sinh sôi nảy nở ra với tư cách là tư bản sinh lợi tức, đem số tiền này nhượng lại cho một người khác[1]. Sự tách rời đó là một tất yếu, bởi vì, trong quá trình tuần hoàn của tư bản công nghiệp, có hai hiện tượng trái ngược nhau: một là, một số nhà tư bản có lượng tư bản tiền tệ nhà rỗi, tạm thời chưa dùng đến như tiền quỹ khấu hao, tiền dự trữ để mua nguyên vật liệu, tiền lương chưa đến kỳ trả, họ cần cho vay để thu lợi tức; hai là, một số nhà tư bản khác lại rất cần tiền để mua nguyên vật liệu và trả lương cho công nhân nhưng hàng hóa lại chưa bán được, họ cần phải đi vay. Chính sự đối lập này làm nảy sinh quan hệ tín dụng, qua đó tư bản tiền tệ nhàn rỗi được chuyển hóa thành tư bản cho vay. Điểm đáng chú ý là trong quá trình này, tư bản không làm thay đổi giá trị mà chỉ chuyển từ tay người sở hữu sang người sử dụng, đồng thời làm xuất hiện sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư bản. Người cho vay vẫn giữ quyền sở hữu, còn người đi vay sử dụng tư bản vào hoạt động kinh doanh và phải trả một khoản lợi tức như là giá cả của việc sử dụng tư bản đó. “Lợi tức không biểu hiện mối quan hệ giữa nhà tư bản với công nhân, mà nó biểu hiện mối quan hệ giữa hai nhà tư bản với nhau”[2]. Như vậy, tư bản cho vay không trực tiếp tạo ra giá trị mới mà chỉ tham gia vào việc phân phối lại giá trị thặng dư, qua đó phản ánh một hình thức vận động đặc thù và ngày càng phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tính đặc biệt của hàng hóa tư bản cho vay thể hiện ở chỗ: đối với tư bản cho vay thì quyền sử dụng tư bản tách khỏi quyền sở hữu tư bản; khi bán hàng hóa đặc biệt này thì giá trị và giá trị sử dụng không mất đi, thậm chí giá trị của nó còn tăng thêm. Lợi tức cho vay trong chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của giá trị thặng dư tạo ra trong sản xuất mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay khi sử dụng tư bản của người này như là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay. Lợi tức biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được mở rộng ra trong lĩnh vực phân phối. Không chỉ có tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp bóc lột lao động làm thuê, mà cả nhà tư bản cho vay cũng bóc lột lao động làm thuê. Tư bản cho vay không chỉ tham gia phân chia số giá trị thặng dư có sẵn, mà còn góp phần tích tụ và tập trung tư bản, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản, phân phối lại tư liệu sản xuất và sức lao động giữa các ngành. Do đó, nó góp phần tăng thêm tổng số giá trị thặng dư của xã hội và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận.
2. Những biểu hiện mới của tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường hiện nay tư bản cho vay không chỉ xuất hiện dưới hình thức đơn giản giữa cá nhân với cá nhân mà đã mở rộng và phát triển mạnh mẽ với sự tham gia của các định chế tài chính, ngân hàng và các tổ chức chức tín dụng quy mô lớn như: HSBC Bank, ANZ, Shinhan Bank, Citi Bank, Public Bank… Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và công ty tài chính không chỉ cung cấp các khoản vay truyền thống mà còn mở rộng sang nhiều sản phẩm tài chính phức tạp như: tín dụng tiêu dùng, cho vay thế chấp tài sản số, thẻ tín dụng… Các hình thức cho vay trở nên linh hoạt hơn, thời gian xét duyệt và giải ngân nhanh chóng nhờ ứng dụng công nghệ số. Thay vì chỉ phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh, tín dụng hiện nay còn tập trung mạnh vào thị trường tiêu dùng, bất động sản và chứng khoán, dẫn đến sự dịch chuyển dòng vốn trong xã hội theo hướng ưu tiên lợi nhuận. Tư bản cho vay không chỉ là công cụ trung gian kết nối giữa người có vốn và người cần vốn, mà còn là một trong những hình thức sinh lời chủ yếu trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tính đến cuối năm 2025 dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt hơn 18,4 triệu tỷ đồng tăng 17,87% so với cuối năm 2024[3]. Tốc độ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ năm 2025 được đánh giá là hỗ trợ hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh vai trò thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, tư bản cho vay hiện nay cũng đang bộc lộ nhiều biểu hiện phức tạp, từ lãi suất biến động, tín dụng đen cho đến sự thao túng của các nhóm tài chính lớn, mất kiểm soát lãi suất… Việc nhận diện đúng đắn và đánh giá toàn diện những biểu hiện của tư bản cho vay trong bối cảnh hiện nay là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách tài chính - tiền tệ hiệu quả, khuyến khích đổi mới tài chính, vừa kiểm soát rủi ro, đảm bảo hoạt động cho vay diễn ra công khai, minh bạch và lành mạnh, góp phần phát triển kinh tế bền vững và công bằng hơn.
Thứ hai, tư bản cho vay chuyển dịch nhiều hơn về phía khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án khởi nghiệp sáng tạo (startup, giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh tiếp cận được nguồn vốn kịp thời, bảo đảm duy trì dòng tiền ổn định đối với hoạt động phát triển sản xuất, đồng thời có thêm động lực để mở rộng quy mô hiệu quả, giúp thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế.
Thứ ba, sự tham gia sâu rộng của các quỹ đầu tư, tập đoàn xuyên quốc gia và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng vào thị trường vốn cũng là biểu hiện rõ nét của tư bản cho vay hiện đại. Các dòng vốn đầu tư gián tiếp, vốn tín dụng ưu đãi, vốn vay nước ngoài... đang dần thay thế vai trò độc quyền của ngân hàng, tạo nên sự đa dạng trong cấu trúc tín dụng của nền kinh tế.
Thứ tư, quan hệ giữa chủ thể cho vay và đi vay ngày càng bị chi phối bởi tỷ giá hối đoái. Chức năng có tính chất nguyên tắc của thị trường ngoại hối là chuyển đổi hay mua bán ngoại tệ. Để làm tốt chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại phải có đủ khả năng cung ứng ngoại tệ, thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của thị trường. Sự thay đổi tương quan giữa cầu và cung ngoại sẽ làm thay đổi tỷ giá tỷ giá hối đoái và ngược lại tỷ giá hối đoái thay đổi cũng tạo nên sự thay đổi điều kiện cân bằng giữa cung và cầu ngoại tệ. Những thay đổi đó ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của người đi vay. Vì thế, Chính phủ phải có những biện pháp can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
Trên thị trường về cơ bản có có ba chủ thể đóng vai trò quan trọng ở thị trường ngoại hối: (1) các chủ thể giao dịch trên thị trường ngoại hối là nhà đầu tư, những người trực tiếp tạo ra cầu hoặc cung ngoại tệ; (2) hệ thống ngân hàng thương mại với chức năng chính là trung gian chuyển đổi ngoại tệ thông qua những tương tác cung - cầu ngoại hối; (3) ngân hàng trung ương với chức năng bán hoặc mua ngoại tệ khi mất cân bằng cung và cầu ngoại tệ dự kiến. Điều này có thể làm giảm hoặc tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Ngay nay, do có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế nên tiền tệ của quốc gia khác nhau có vai trò khác nhau trên thị trường ngoại hối quốc tế. Một số loại tiền như Mỹ (USD), Bảng Anh (GBP), Euro (EUR), Nhân dân tệ (CNY) là những đồng tiền chủ yếu dùng để thanh toán quốc tế, trong đó, USD được dùng phổ biến nhất. Gần đây do tăng trưởng kinh tế và tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế mà nhân dân tệ của Trung Quốc đang dần có vị trí nhất định trong thanh toán quốc tế. Như vậy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động chi phối ngày càng lớn hơn so với tỷ suất lợi tức cho vay. Nợ công của Châu Âu và nợ công của Mỹ đã gây nên những bất ổn về điều tiết kinh tế của nhà nước, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường của nền kinh tế nhiều nước. Từ đó, chủ thể đi vay phải có những tính toán, dự báo để lường trước những biến động của thị trường tiền tệ toàn cầu.
Thứ năm, quan hệ giữa các chủ thể của tư bản cho vay không chỉ bị chi phối bởi quan hệ kinh tế mà còn bị chi phối bởi quan hệ chính trị. Xu hướng này thể hiện thông qua nhiều phương thức hoạt động mới của tư bản cho vay. Nếu như trước đây, chủ thể cho vay theo phương thức số lượng nhỏ, thời gian ngắn và lãi suất cao thì ngày nay, số lượng cho vay lớn, thời gian dài, lãi suất thấp… Điều này tạo ra tâm lý đối với chủ thể đi vay ảo tưởng rằng được tiền mà không tính toán nhiều đến lợi ích dài hạn. Từ đó, tạo ra sự phụ thuộc kinh tế sẽ dần dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị.
Từ góc nhìn kinh tế chính trị, có thể thấy rằng tư bản cho vay hiện đại đang có sự vận động và biến đổi linh hoạt, phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế thị trường. Kết luận này của Mác vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay, khi các hoạt động cho vay, đầu cơ tài chính và tín dụng đang ngày càng mở rộng và chi phối mạnh mẽ nền kinh tế toàn cầu. Qua đó, góp phần củng cố và kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như vào con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của toàn dân tộc. Đồng thời, là tư liệu tham khảo để giảng dạy môn học kinh tế chính trị trong chương trình Trung cấp ý luận chính trị.
1. Những nội dung cơ bản của tư bản cho vay trong bộ “Tư bản” của C.Mác
Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản được C.Mác phân tích là loại tư bản sinh lợi tức, một hình thái phát sinh từ tư bản công nghiệp. Tư bản cho vay trong chủ nghĩa tư bản là một bộ phận tư bản công nghiệp được tách ra trong quá trình vận động tuần hoàn của tư bản. Ở đây tư bản không bị biến đổi giá trị, nó chỉ đổi từ tay người này sang tay người khác. Một người có tiền muốn làm cho tiền sinh sôi nảy nở ra với tư cách là tư bản sinh lợi tức, đem số tiền này nhượng lại cho một người khác[1]. Sự tách rời đó là một tất yếu, bởi vì, trong quá trình tuần hoàn của tư bản công nghiệp, có hai hiện tượng trái ngược nhau: một là, một số nhà tư bản có lượng tư bản tiền tệ nhà rỗi, tạm thời chưa dùng đến như tiền quỹ khấu hao, tiền dự trữ để mua nguyên vật liệu, tiền lương chưa đến kỳ trả, họ cần cho vay để thu lợi tức; hai là, một số nhà tư bản khác lại rất cần tiền để mua nguyên vật liệu và trả lương cho công nhân nhưng hàng hóa lại chưa bán được, họ cần phải đi vay. Chính sự đối lập này làm nảy sinh quan hệ tín dụng, qua đó tư bản tiền tệ nhàn rỗi được chuyển hóa thành tư bản cho vay. Điểm đáng chú ý là trong quá trình này, tư bản không làm thay đổi giá trị mà chỉ chuyển từ tay người sở hữu sang người sử dụng, đồng thời làm xuất hiện sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tư bản. Người cho vay vẫn giữ quyền sở hữu, còn người đi vay sử dụng tư bản vào hoạt động kinh doanh và phải trả một khoản lợi tức như là giá cả của việc sử dụng tư bản đó. “Lợi tức không biểu hiện mối quan hệ giữa nhà tư bản với công nhân, mà nó biểu hiện mối quan hệ giữa hai nhà tư bản với nhau”[2]. Như vậy, tư bản cho vay không trực tiếp tạo ra giá trị mới mà chỉ tham gia vào việc phân phối lại giá trị thặng dư, qua đó phản ánh một hình thức vận động đặc thù và ngày càng phát triển của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tính đặc biệt của hàng hóa tư bản cho vay thể hiện ở chỗ: đối với tư bản cho vay thì quyền sử dụng tư bản tách khỏi quyền sở hữu tư bản; khi bán hàng hóa đặc biệt này thì giá trị và giá trị sử dụng không mất đi, thậm chí giá trị của nó còn tăng thêm. Lợi tức cho vay trong chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của giá trị thặng dư tạo ra trong sản xuất mà nhà tư bản đi vay trả cho nhà tư bản cho vay khi sử dụng tư bản của người này như là giá cả của hàng hóa tư bản cho vay. Lợi tức biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được mở rộng ra trong lĩnh vực phân phối. Không chỉ có tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp bóc lột lao động làm thuê, mà cả nhà tư bản cho vay cũng bóc lột lao động làm thuê. Tư bản cho vay không chỉ tham gia phân chia số giá trị thặng dư có sẵn, mà còn góp phần tích tụ và tập trung tư bản, mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển của tư bản, phân phối lại tư liệu sản xuất và sức lao động giữa các ngành. Do đó, nó góp phần tăng thêm tổng số giá trị thặng dư của xã hội và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận.
2. Những biểu hiện mới của tư bản cho vay trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường hiện nay tư bản cho vay không chỉ xuất hiện dưới hình thức đơn giản giữa cá nhân với cá nhân mà đã mở rộng và phát triển mạnh mẽ với sự tham gia của các định chế tài chính, ngân hàng và các tổ chức chức tín dụng quy mô lớn như: HSBC Bank, ANZ, Shinhan Bank, Citi Bank, Public Bank… Các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và công ty tài chính không chỉ cung cấp các khoản vay truyền thống mà còn mở rộng sang nhiều sản phẩm tài chính phức tạp như: tín dụng tiêu dùng, cho vay thế chấp tài sản số, thẻ tín dụng… Các hình thức cho vay trở nên linh hoạt hơn, thời gian xét duyệt và giải ngân nhanh chóng nhờ ứng dụng công nghệ số. Thay vì chỉ phục vụ hoạt động sản xuất - kinh doanh, tín dụng hiện nay còn tập trung mạnh vào thị trường tiêu dùng, bất động sản và chứng khoán, dẫn đến sự dịch chuyển dòng vốn trong xã hội theo hướng ưu tiên lợi nhuận. Tư bản cho vay không chỉ là công cụ trung gian kết nối giữa người có vốn và người cần vốn, mà còn là một trong những hình thức sinh lời chủ yếu trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Tính đến cuối năm 2025 dư nợ tín dụng nền kinh tế đạt hơn 18,4 triệu tỷ đồng tăng 17,87% so với cuối năm 2024[3]. Tốc độ tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ năm 2025 được đánh giá là hỗ trợ hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh vai trò thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng, mở rộng cơ hội tiếp cận vốn, tư bản cho vay hiện nay cũng đang bộc lộ nhiều biểu hiện phức tạp, từ lãi suất biến động, tín dụng đen cho đến sự thao túng của các nhóm tài chính lớn, mất kiểm soát lãi suất… Việc nhận diện đúng đắn và đánh giá toàn diện những biểu hiện của tư bản cho vay trong bối cảnh hiện nay là cơ sở quan trọng để hoạch định chính sách tài chính - tiền tệ hiệu quả, khuyến khích đổi mới tài chính, vừa kiểm soát rủi ro, đảm bảo hoạt động cho vay diễn ra công khai, minh bạch và lành mạnh, góp phần phát triển kinh tế bền vững và công bằng hơn.
Thứ hai, tư bản cho vay chuyển dịch nhiều hơn về phía khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, các dự án khởi nghiệp sáng tạo (startup, giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh tiếp cận được nguồn vốn kịp thời, bảo đảm duy trì dòng tiền ổn định đối với hoạt động phát triển sản xuất, đồng thời có thêm động lực để mở rộng quy mô hiệu quả, giúp thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế.
Thứ ba, sự tham gia sâu rộng của các quỹ đầu tư, tập đoàn xuyên quốc gia và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng vào thị trường vốn cũng là biểu hiện rõ nét của tư bản cho vay hiện đại. Các dòng vốn đầu tư gián tiếp, vốn tín dụng ưu đãi, vốn vay nước ngoài... đang dần thay thế vai trò độc quyền của ngân hàng, tạo nên sự đa dạng trong cấu trúc tín dụng của nền kinh tế.
Thứ tư, quan hệ giữa chủ thể cho vay và đi vay ngày càng bị chi phối bởi tỷ giá hối đoái. Chức năng có tính chất nguyên tắc của thị trường ngoại hối là chuyển đổi hay mua bán ngoại tệ. Để làm tốt chức năng này, hệ thống ngân hàng thương mại phải có đủ khả năng cung ứng ngoại tệ, thỏa mãn nhu cầu ngoại tệ của thị trường. Sự thay đổi tương quan giữa cầu và cung ngoại sẽ làm thay đổi tỷ giá tỷ giá hối đoái và ngược lại tỷ giá hối đoái thay đổi cũng tạo nên sự thay đổi điều kiện cân bằng giữa cung và cầu ngoại tệ. Những thay đổi đó ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh của người đi vay. Vì thế, Chính phủ phải có những biện pháp can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm ổn định tỷ giá theo hướng có lợi cho nền kinh tế.
Trên thị trường về cơ bản có có ba chủ thể đóng vai trò quan trọng ở thị trường ngoại hối: (1) các chủ thể giao dịch trên thị trường ngoại hối là nhà đầu tư, những người trực tiếp tạo ra cầu hoặc cung ngoại tệ; (2) hệ thống ngân hàng thương mại với chức năng chính là trung gian chuyển đổi ngoại tệ thông qua những tương tác cung - cầu ngoại hối; (3) ngân hàng trung ương với chức năng bán hoặc mua ngoại tệ khi mất cân bằng cung và cầu ngoại tệ dự kiến. Điều này có thể làm giảm hoặc tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Ngay nay, do có sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế nên tiền tệ của quốc gia khác nhau có vai trò khác nhau trên thị trường ngoại hối quốc tế. Một số loại tiền như Mỹ (USD), Bảng Anh (GBP), Euro (EUR), Nhân dân tệ (CNY) là những đồng tiền chủ yếu dùng để thanh toán quốc tế, trong đó, USD được dùng phổ biến nhất. Gần đây do tăng trưởng kinh tế và tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế mà nhân dân tệ của Trung Quốc đang dần có vị trí nhất định trong thanh toán quốc tế. Như vậy, sự biến động của tỷ giá hối đoái có tác động chi phối ngày càng lớn hơn so với tỷ suất lợi tức cho vay. Nợ công của Châu Âu và nợ công của Mỹ đã gây nên những bất ổn về điều tiết kinh tế của nhà nước, tiềm ẩn những nguy cơ khó lường của nền kinh tế nhiều nước. Từ đó, chủ thể đi vay phải có những tính toán, dự báo để lường trước những biến động của thị trường tiền tệ toàn cầu.
Thứ năm, quan hệ giữa các chủ thể của tư bản cho vay không chỉ bị chi phối bởi quan hệ kinh tế mà còn bị chi phối bởi quan hệ chính trị. Xu hướng này thể hiện thông qua nhiều phương thức hoạt động mới của tư bản cho vay. Nếu như trước đây, chủ thể cho vay theo phương thức số lượng nhỏ, thời gian ngắn và lãi suất cao thì ngày nay, số lượng cho vay lớn, thời gian dài, lãi suất thấp… Điều này tạo ra tâm lý đối với chủ thể đi vay ảo tưởng rằng được tiền mà không tính toán nhiều đến lợi ích dài hạn. Từ đó, tạo ra sự phụ thuộc kinh tế sẽ dần dẫn đến sự phụ thuộc về chính trị.
Từ góc nhìn kinh tế chính trị, có thể thấy rằng tư bản cho vay hiện đại đang có sự vận động và biến đổi linh hoạt, phản ánh đúng bản chất của nó trong nền kinh tế thị trường. Kết luận này của Mác vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay, khi các hoạt động cho vay, đầu cơ tài chính và tín dụng đang ngày càng mở rộng và chi phối mạnh mẽ nền kinh tế toàn cầu. Qua đó, góp phần củng cố và kiên định niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như vào con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã lựa chọn, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với nguyện vọng của toàn dân tộc. Đồng thời, là tư liệu tham khảo để giảng dạy môn học kinh tế chính trị trong chương trình Trung cấp ý luận chính trị.
ThS. Đoàn Thị Vân Thúy
Trưởng phòng Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học
Trưởng phòng Quản lý đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học
[1] C.Mác: Quyển III toàn bộ quá trình sản xuất. Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật. H.2018, chương XXI. tr518-522
[2] C.Mác: Quyển III toàn bộ quá trình sản xuất. Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật. H.2018, chương XXIII. tr582-583
[3] https://www.qdnd.vn/kinh-te/tin-tuc/tinh-toi-cuoi-nam-2025-du-no-tin-dung-nen-kinh-te-dat-hon-18-4-trieu-ty-dong-1019163





