
- Nghiên cứu khoa học

LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC VỚI VIỆC THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Thứ tư - 04/02/2026 11:40
Cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đất nước ta chìm trong đêm dài nô lệ. Nhân dân liên tiếp đứng lên chống ách áp bức, bóc lột của thực dân cướp nước và phong kiến tay sai. Các phong trào diễn ra sôi nổi, thể hiện khí phách quật cường, tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc, song đều lần lượt thất bại do thiếu một đường lối cách mạng đúng đắn và một lực lượng lãnh đạo đủ bản lĩnh, trí tuệ. Trong bối cảnh lịch sử đó, với lòng yêu nước cháy bỏng và ý chí cứu nước, cứu dân sâu sắc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đã bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm con đường giải phóng dân tộc. Từ thực tiễn phong trào cách mạng thế giới, Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và khẳng định đây chính là con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi qua nhiều quốc gia, nghiên cứu các cuộc cách mạng đã giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển, đồng thời đến cả những nơi bần cùng, khốn khổ nhất ở châu Mỹ, châu Phi. Người tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân lao động, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, từ đó nhận thức ngày càng sâu sắc bản chất của chủ nghĩa tư bản và chính sách áp bức, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Trước ảnh hưởng to lớn của sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc quyết định trở lại Pháp để trực tiếp tham gia phong trào cách mạng. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6 năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm tới Hội nghị Véc-xây, yêu cầu Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Tháng 6 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Luận cương của Lê-nin đã gây xúc động sâu sắc, như ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng của Người. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!... Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin”.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Trong giai đoạn 1919 - 1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; qua thực tiễn đấu tranh và rèn luyện, Người trở thành một cán bộ trung kiên, xuất sắc của Quốc tế Cộng sản. Đây là thời kỳ có ý nghĩa bước ngoặt, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của Nguyễn Ái Quốc từ tư tưởng yêu nước truyền thống sang lập trường giai cấp vô sản, khẳng định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam là con đường cách mạng vô sản.
Sau khi tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, vừa không ngừng nghiên cứu, học tập, bổ sung và hoàn thiện hệ tư tưởng cách mạng của mình; đồng thời, Người tích cực chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về tư tưởng, trong giai đoạn 1921 - 1930, Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì, bền bỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, nhằm làm chuyển biến nhận thức của quần chúng, trước hết là giai cấp công nhân, để hệ tư tưởng Mác - Lênin từng bước giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội. Thông qua đó, phong trào yêu nước Việt Nam được nâng lên một trình độ mới, ngày càng xích gần và gắn bó với lập trường của giai cấp công nhân. Trong quá trình đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo, tham gia tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế; đặc biệt là tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”, đồng thời sáng lập và tổ chức xuất bản các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong… nhằm trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Các bài viết, bài giảng của Người có lời văn giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, nội dung thiết thực, phù hợp với trình độ tiếp nhận của quần chúng, nên nhanh chóng được truyền bá rộng rãi.
Thông qua hoạt động tuyên truyền đó, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất phản động, tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có nhân dân Việt Nam; đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc. Người vận dụng sáng tạo những phương pháp truyền bá phù hợp với điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến: từ thức tỉnh nhận thức, định hướng hành động, đến đào tạo đội ngũ tuyên truyền thông qua một tổ chức vừa tầm, tiến hành tuyên truyền từ thấp đến cao, từng bước chuẩn bị về tư tưởng cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước phác thảo và xác lập những vấn đề cơ bản của đường lối cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Năm 1927, cuốn sách “Đường Cách mệnh” - tập hợp các bài giảng của Người trong những lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ tại Quảng Châu (Trung Quốc), được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc khẳng định một cách sâu sắc rằng: muốn cách mạng giành thắng lợi thì phải có một đảng cách mạng lãnh đạo; đảng có vững thì cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì con thuyền mới vượt được sóng gió. Đường Cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, giữ vai trò chủ đạo trong việc truyền bá tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc vào Việt Nam. Tác phẩm không chỉ chỉ rõ con đường và phương pháp để nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, tự do, mà còn đặt cơ sở khoa học cho việc hình thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, góp phần quan trọng vào quá trình chuẩn bị về chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên những vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam: cách mạng trước hết là cách mạng giải phóng dân tộc; động lực chủ yếu của cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân - những lực lượng giữ vai trò “gốc của cách mệnh”; đồng thời xác định “học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ” là những lực lượng có thể trở thành bạn đồng minh của công - nông trong cuộc đấu tranh chung. Những luận điểm đó đặt nền tảng lý luận cho việc hình thành liên minh công - nông và mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đặc biệt, Người nhấn mạnh một quan điểm có ý nghĩa quyết định: “Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng”.
Về tổ chức, ngày 25 tháng 9 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc nhận quyết định của Quốc tế Cộng sản sang Trung Quốc hoạt động. Ngày 11 tháng 11 năm 1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, song song với việc truyền bá lý luận chính trị nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng công tác tổ chức: tập hợp lực lượng, huấn luyện và đào tạo cán bộ. Tháng 6 năm 1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân có ý nghĩa quyết định trong việc chuẩn bị lực lượng cho cách mạng Việt Nam, vừa đào tạo cán bộ, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ, đồng thời cử một số cán bộ ưu tú sang học tập tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn. Các hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã thực hiện phong trào “vô sản hóa”, đi sâu vào phong trào đấu tranh của quần chúng công nhân và nhân dân lao động, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng đúng đắn, từng bước giác ngộ, tổ chức quần chúng đấu tranh cách mạng một cách tự giác.
Thông qua hoạt động đó, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản đầu tiên. Đây là bước phát triển tất yếu, tạo điều kiện chín muồi và hợp quy luật cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam - kết quả trực tiếp của quá trình chuẩn bị toàn diện về tư tưởng, chính trị và tổ chức do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo.
Với sự chuẩn bị toàn diện và tích cực về tư tưởng, chính trị và tổ chức, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, diễn ra tại Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930. Hội nghị đã quyết định hợp nhất ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, thành lập một chính đảng duy nhất mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thảo luận và thông qua các văn kiện cơ bản của Đảng, gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện quan trọng này do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn thảo và được Hội nghị nhất trí thông qua, trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, trong đó Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò người kiến tạo, sáng lập và lãnh đạo.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng. Sau này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối chính trị và con đường cứu nước, cứu dân; mở ra thời kỳ mới cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, nghèo nàn và lạc hậu.
Trong suốt chặng đường 96 năm thành lập và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; kiên trì giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo toàn dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ đối ngoại rộng rãi, uy tín và vị thế ngày càng được nâng cao trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2022) và mừng Xuân Bính Ngọ 2026, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng quang vinh và công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, đối với quá trình ra đời và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay nguyện không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận và hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.
Đảng bộ nhân dân các dân tộc Cao Bằng luôn vinh dự, tự hào là nơi góp phần quan trọng vào việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, Mặt trận Việt Minh, là địa phương đầu tiên được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân. Cùng với cả nước, nhân dân Cao Bằng không ngừng phát huy truyền thống quê hương cách mạng, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tự hào về Đảng quang vinh, đồng thời kỷ niệm 96 năm thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng (01/4/1930 - 01/4/2026), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh nguyện khắc ghi và thấm nhuần sâu sắc lời dạy, tình cảm của Bác Hồ kính yêu; quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh phát triển năng động, “gương mẫu”, “đi đầu” như mong muốn của Người, xứng đáng với truyền thống và niềm tự hào của quê hương “Cội nguồn cách mạng”./.
Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi qua nhiều quốc gia, nghiên cứu các cuộc cách mạng đã giành thắng lợi ở những nước tư bản phát triển, đồng thời đến cả những nơi bần cùng, khốn khổ nhất ở châu Mỹ, châu Phi. Người tiếp xúc với nhiều tầng lớp nhân dân lao động, thuộc nhiều dân tộc khác nhau, từ đó nhận thức ngày càng sâu sắc bản chất của chủ nghĩa tư bản và chính sách áp bức, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dân đế quốc đối với các dân tộc thuộc địa. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Trước ảnh hưởng to lớn của sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc quyết định trở lại Pháp để trực tiếp tham gia phong trào cách mạng. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6 năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam, với tên gọi Nguyễn Ái Quốc, Người gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm tới Hội nghị Véc-xây, yêu cầu Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Tháng 6 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp. Luận cương của Lê-nin đã gây xúc động sâu sắc, như ngọn đèn soi sáng con đường cách mạng của Người. Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!... Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin”.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tua của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đồng thời là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Trong giai đoạn 1919 - 1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; qua thực tiễn đấu tranh và rèn luyện, Người trở thành một cán bộ trung kiên, xuất sắc của Quốc tế Cộng sản. Đây là thời kỳ có ý nghĩa bước ngoặt, đánh dấu sự chuyển biến căn bản của Nguyễn Ái Quốc từ tư tưởng yêu nước truyền thống sang lập trường giai cấp vô sản, khẳng định con đường giải phóng dân tộc Việt Nam là con đường cách mạng vô sản.
Sau khi tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, vừa không ngừng nghiên cứu, học tập, bổ sung và hoàn thiện hệ tư tưởng cách mạng của mình; đồng thời, Người tích cực chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về tư tưởng, trong giai đoạn 1921 - 1930, Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì, bền bỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, nhằm làm chuyển biến nhận thức của quần chúng, trước hết là giai cấp công nhân, để hệ tư tưởng Mác - Lênin từng bước giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội. Thông qua đó, phong trào yêu nước Việt Nam được nâng lên một trình độ mới, ngày càng xích gần và gắn bó với lập trường của giai cấp công nhân. Trong quá trình đó, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài báo, tham gia tham luận tại các đại hội, hội nghị quốc tế; đặc biệt là tác phẩm nổi tiếng “Bản án chế độ thực dân Pháp”, đồng thời sáng lập và tổ chức xuất bản các tờ báo Thanh niên, Công nông, Lính cách mệnh, Tiền phong… nhằm trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Các bài viết, bài giảng của Người có lời văn giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, nội dung thiết thực, phù hợp với trình độ tiếp nhận của quần chúng, nên nhanh chóng được truyền bá rộng rãi.
Thông qua hoạt động tuyên truyền đó, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất phản động, tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp đối với nhân dân các nước thuộc địa, trong đó có nhân dân Việt Nam; đồng thời làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc. Người vận dụng sáng tạo những phương pháp truyền bá phù hợp với điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến: từ thức tỉnh nhận thức, định hướng hành động, đến đào tạo đội ngũ tuyên truyền thông qua một tổ chức vừa tầm, tiến hành tuyên truyền từ thấp đến cao, từng bước chuẩn bị về tư tưởng cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam.
Về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã từng bước phác thảo và xác lập những vấn đề cơ bản của đường lối cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Năm 1927, cuốn sách “Đường Cách mệnh” - tập hợp các bài giảng của Người trong những lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ tại Quảng Châu (Trung Quốc), được Bộ Tuyên truyền của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông xuất bản. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc khẳng định một cách sâu sắc rằng: muốn cách mạng giành thắng lợi thì phải có một đảng cách mạng lãnh đạo; đảng có vững thì cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì con thuyền mới vượt được sóng gió. Đường Cách mệnh có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, giữ vai trò chủ đạo trong việc truyền bá tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc vào Việt Nam. Tác phẩm không chỉ chỉ rõ con đường và phương pháp để nhân dân ta đấu tranh giành độc lập, tự do, mà còn đặt cơ sở khoa học cho việc hình thành đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, góp phần quan trọng vào quá trình chuẩn bị về chính trị và tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong tác phẩm, Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên những vấn đề cốt lõi của cách mạng Việt Nam: cách mạng trước hết là cách mạng giải phóng dân tộc; động lực chủ yếu của cách mạng là giai cấp công nhân và nông dân - những lực lượng giữ vai trò “gốc của cách mệnh”; đồng thời xác định “học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ” là những lực lượng có thể trở thành bạn đồng minh của công - nông trong cuộc đấu tranh chung. Những luận điểm đó đặt nền tảng lý luận cho việc hình thành liên minh công - nông và mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đặc biệt, Người nhấn mạnh một quan điểm có ý nghĩa quyết định: “Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng”.
Về tổ chức, ngày 25 tháng 9 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc nhận quyết định của Quốc tế Cộng sản sang Trung Quốc hoạt động. Ngày 11 tháng 11 năm 1924, Người đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, song song với việc truyền bá lý luận chính trị nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng cách mạng ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng công tác tổ chức: tập hợp lực lượng, huấn luyện và đào tạo cán bộ. Tháng 6 năm 1925, Người sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - tổ chức tiền thân có ý nghĩa quyết định trong việc chuẩn bị lực lượng cho cách mạng Việt Nam, vừa đào tạo cán bộ, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong nước. Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ, đồng thời cử một số cán bộ ưu tú sang học tập tại Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng có bản lĩnh chính trị, trình độ lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn. Các hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã thực hiện phong trào “vô sản hóa”, đi sâu vào phong trào đấu tranh của quần chúng công nhân và nhân dân lao động, trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng đúng đắn, từng bước giác ngộ, tổ chức quần chúng đấu tranh cách mạng một cách tự giác.
Thông qua hoạt động đó, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản đầu tiên. Đây là bước phát triển tất yếu, tạo điều kiện chín muồi và hợp quy luật cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam - kết quả trực tiếp của quá trình chuẩn bị toàn diện về tư tưởng, chính trị và tổ chức do Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo.
Với sự chuẩn bị toàn diện và tích cực về tư tưởng, chính trị và tổ chức, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, diễn ra tại Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930. Hội nghị đã quyết định hợp nhất ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, thành lập một chính đảng duy nhất mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thảo luận và thông qua các văn kiện cơ bản của Đảng, gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản. Những văn kiện quan trọng này do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn thảo và được Hội nghị nhất trí thông qua, trở thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của quá trình kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, trong đó Nguyễn Ái Quốc giữ vai trò người kiến tạo, sáng lập và lãnh đạo.
Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng. Sau này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối chính trị và con đường cứu nước, cứu dân; mở ra thời kỳ mới cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa nhân dân Việt Nam thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, nghèo nàn và lạc hậu.
Trong suốt chặng đường 96 năm thành lập và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; kiên trì giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo toàn dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ đối ngoại rộng rãi, uy tín và vị thế ngày càng được nâng cao trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2022) và mừng Xuân Bính Ngọ 2026, chúng ta càng thêm tự hào về Đảng quang vinh và công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung, đối với quá trình ra đời và trưởng thành của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Mỗi cán bộ, đảng viên hôm nay nguyện không ngừng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận và hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.
Đảng bộ nhân dân các dân tộc Cao Bằng luôn vinh dự, tự hào là nơi góp phần quan trọng vào việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, Mặt trận Việt Minh, là địa phương đầu tiên được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, cứu dân. Cùng với cả nước, nhân dân Cao Bằng không ngừng phát huy truyền thống quê hương cách mạng, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tự hào về Đảng quang vinh, đồng thời kỷ niệm 96 năm thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Cao Bằng (01/4/1930 - 01/4/2026), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh nguyện khắc ghi và thấm nhuần sâu sắc lời dạy, tình cảm của Bác Hồ kính yêu; quyết tâm xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh phát triển năng động, “gương mẫu”, “đi đầu” như mong muốn của Người, xứng đáng với truyền thống và niềm tự hào của quê hương “Cội nguồn cách mạng”./.
ThS. Bế Dũng
Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Các cơ quan Đảng tỉnh Cao Bằng
Tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Các cơ quan Đảng tỉnh Cao Bằng





