
- Nghiên cứu khoa học

TỪ NHIỆM VỤ BAN ĐẦU CỦA ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN, SUY NGHĨ VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH CAO BẰNG HIỆN NAY
Thứ sáu - 06/12/2024 09:56
Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là “chính trị trọng hơn quân sự”. Theo đó, nhiệm vụ ban đầu của Đội chính là công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân giác ngộ, tham gia làm cách mạng. Đây là nét tư duy độc đáo, đặc sắc của Bác Hồ vào thời điểm tiền khởi nghĩa đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đã được Đảng ta nói chung và Đảng bộ tỉnh Cao Bằng nói riêng kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Trong di sản lý luận về bạo lực cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, vai trò của chính trị, tư tưởng đối với hoạt động quân sự và xây dựng quân đội có tầm quan trọng đặc biệt. Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc với truyền thống "lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo", với tinh thần đoàn kết “bốn cõi một nhà”, Bác Hồ và Đảng ta xác định: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Muốn làm được điều này cần phải có “ quân đội công nông” là nhận định trong Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng (2-1930). Về sau, Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng (5-1941) đã đề ra yêu cầu lập “Việt Nam nhân dân cách mạng quân”.
Thực hiện chủ trương đó, cùng với việc tuyên truyền, vận động xây dựng lực lượng chính trị hùng hậu, Đảng ta coi trọng từng bước xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng trưởng thành. Theo đó, các đội tự vệ, Đội du kích Bắc Sơn, du kích Ba Tơ,... các đội Cứu quốc quân I, II, III lần lượt ra đời. Bước sang năm 1944, Chiến tranh thế giới thứ hai đang dần đi vào hồi kết, thời cơ thuận lợi cho dân tộc Việt Nam vùng lên giải phóng dân tộc đang đến rất gần, Bác Hồ đã nhận định đúng tình hình, sáng suốt đề ra chủ trương thành lập “ một đội quân chủ lực” để làm nhiệm vụ xung kích, đi đầu trên con đường cách mạng Việt Nam.
Từ đó, thực hiện chỉ dẫn của Bác Hồ, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Lê Quảng Ba họp bàn, khẩn trương xây dựng đội vũ trang theo đúng yêu cầu của Người. Về tên gọi của đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng với các đồng chí chủ trì thống nhất lấy tên là “Ðội Việt Nam Giải phóng quân”. Sau khi báo cáo, lãnh tụ Hồ Chí Minh thêm hai từ “tuyên truyền” vào tên Đội và duyệt danh sách cán bộ, đội viên của Đội. Trong Chỉ thị thành lập Đội, Người chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền”[1]. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Đảng và Bác Hồ ủy nhiệm tuyên bố Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.
Để thực hiện đúng và thực hiện bằng được theo lời căn dặn của Bác: Trong một tháng sau khi thành lập, phải có hoạt động, trận đầu nhất định phải thắng. Đội đã xây dựng kế hoạch tiến công đồn Phai Khắt và Nà Ngần. Nhưng trong bối cảnh khó khăn của những ngày đầu mới thành lập, Đội chỉ có 34 đội viên, vũ khí thô sơ, thiếu thốn về hậu cần,...Để thực hiện được quyết tâm đó, chỉ còn cách phải dựa vào giúp đỡ của Nhân dân, cần phải khéo léo tuyên truyền để huy động mọi nguồn lực đánh thắng trận đầu. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nó có tác động rất lớn tới tinh thần của các đội viên, cũng như thanh thế của Đội.
Nắm rõ thực tế đó, Ban chỉ huy Đội đã xây dựng kế hoạch, xác định những việc cần làm ngay, trong đó đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân góp công, góp sức. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, người dân đã một lòng giác ngộ cách mạng, ủng hộ Đội bằng nhiều việc làm ý nghĩa: lực lượng du kích ở địa phương đã xuất hiện khắp nơi nắm tình hình; xuất hiện những tấm gương điển hình như: đồng chí Nông Văn Lạc - vốn giác ngộ cách mạng từ sớm, đã đứng ra kết nối Đội với người dân địa phương; bé Hồng tức Nông Văn Xương, mới 12 tuổi nhưng ngày ngày đem thức ăn cho quân địch nên đã nắm được các vị trí kho đạn, kho lương thực; nhiều người dân tham gia canh gác các ngả đường, sẵn sàng phục vụ nước uống, lương thực,... để Đội chiến đấu. Và kết quả là dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, trực tiếp là Ban chỉ huy Đội cùng với sự giúp đỡ, che chở của Nhân dân, Đội đã giành chiến thắng ở hai trận mở màn Phai Khắt và Nà Ngần.
Hai trận đánh Phai Khắt và Nà Ngần tuy quy mô nhỏ nhưng có ý nghĩa rất to lớn. Đây là hai trận đánh có tổ chức, có kế hoạch, có công tác tham mưu, có công tác chính trị, công tác hậu cần. Có được kết quả này bắt nguồn từ việc tiến hành có hiệu quả và khéo léo công tác tuyên truyền, vận động quần chúng giác ngộ về tư tưởng, chính trị tham gia cách mạng. Nhờ vậy, đã có đội ngũ cán bộ cơ sở và quần chúng cách mạng địa phương giúp Đội nắm tình hình địch trong đồn, tìm quần áo lính dõng để cải trang đột nhập đồn địch, họ còn đảm nhận việc tiếp tế, canh gác vòng ngoài, cảnh giới, giữ bí mật cho trận đánh. Sau trận đánh thắng lợi, Nhân dân lại giúp Đội thu dọn chiến trường, xóa dấu vết, giữ bí mật, giải quyết tù binh,...Những hoạt động đó dù mới là bước đầu nhưng đã thể hiện sự phối hợp tuyệt vời của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, trong đó vai trò tham gia của quần chúng là hết sức quan trọng.
Để phát huy hơn nữa thanh thế của Đội và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, ngay sau khi thành lập Đội, bên cạnh việc cho đăng tin về sự ra đời và những trận thắng đầu tiên trên Báo Việt Nam Độc lập, cũng thời điểm này, ngay giữa rừng Trần Hưng Đạo, một tờ báo riêng của Đội được ra đời với tên gọi “Tiếng súng reo”. Đây chính là tờ báo tiền thân đầu tiên của lực lượng vũ trang. Trong điều kiện thiếu thốn, nhưng Đội đã rất sáng tạo trong khâu viết bài và tuyên truyền. Đội đã “chọn trong những đội viên viết chữ đẹp, chép thành nhiều bản, với nhiều khuôn khổ khác nhau trên các loại giấy mà Đội có thể có được lúc đó…"[2]. Ngoài ra báo Tiếng súng reo còn được dịch ra các thứ tiếng khác như Tày, Nùng và Dao để phát hành tới các tổ chức quần chúng khác như thanh niên, phụ nữ, nông hội,...nhằm mục đích tuyên truyền, vận động, lôi kéo các tầng lớp Nhân dân theo cách mạng.
Như vậy có thế nói, từ quan điểm chỉ đạo, đến thực tiễn hoạt động cho thấy: Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân luôn thực hiện triệt để tư tưởng lấy chính trị làm gốc, coi trọng công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Với nòng cốt là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, các lực lượng vũ trang thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân, sau này là Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã cùng với Đảng và dân tộc làm nên những thiên sử vàng chói lọi. Từ hai trận thắng đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần đội quân đã giành thắng lợi vang dội trong cách mạng tháng Tám năm 1945, thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Và hôm nay là thắng lợi trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Trong hành trình ấy, có một bài học kinh nghiệm sâu sắc được đúc kết đó chính là trong mọi hoàn cảnh, Đảng ta luôn coi trọng công tác dân vận, vận động quần chúng tham gia cách mạng.
Việc triển khai phong trào thi đua thực hiện “Dân vận khéo” tại tỉnh đã được gắn kết với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực và điều kiện cụ thể của từng cơ quan, đơn vị với nhiều chủ đề. Tiêu biểu như mô hình trong xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở; chăm lo đời sống cho người lao động và thực hiện công tác an sinh xã hội; "Xây dựng môi trường văn hóa, công sở văn minh"; "Không hút thuốc lá"; "Vận động cán bộ, viên chức và người lao động trong đơn vị thực hành tiết kiệm, chống lãng phí"; "Môi trường làm việc tại cơ quan, đơn vị an toàn, sạch đẹp"; "Đẩy mạnh công tác chuyển đổi số, cải cách thủ tục hành chính hướng đến sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp",...Qua đó, nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, nghĩa vụ và quyền lợi của Nhân dân đối với sự phát triển của đất nước.Từ đó, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, tình hình an ninh chính trị ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tại tỉnh từng bước được nâng cao. “Giai đoạn 2019 - 2022, Cao Bằng xây dựng được 4086 mô hình “Dân vận khéo”. Có 888 tập thể và 1160 cá nhân tiêu biểu được UBND huyện, thành phố biểu dương; 37 tập thể, 58 cá nhân điển hình phong trào thi đua “Dân vận khéo” được UBND tỉnh tặng Bằng khen”.[3] Kết quả trên thể hiện, công tác dân vận đã đi vào chiều sâu, thực chất, đã nhận được sự đồng thuận của toàn xã hội.
Một là, tiếp tục quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong công tác dân vận. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của Nhân dân, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của Nhân dân. Đây chính là động lực thúc đẩy phong trào quần chúng, đáp ứng lợi ích thiết thực của Nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ của công dân.
Hai là, chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục Nhân dân thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức chuyên môn và năng lực, kỹ năng thực tiễn để họ thực sự là cầu nối giữa Đảng và Nhân dân, tạo dựng được niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận. Thường xuyên thành lập các đoàn kiểm tra, không để xảy ra các vụ việc khiếu kiện đông người, ngăn ngừa hình thành “điểm nóng”, bức xúc của dân tại cơ sở.
Bốn là, có hình thức khen thưởng, động viên kịp thời cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị và cá nhân có thành tích xuất sắc, đi đầu trong thực hiện có hiệu quả công tác dân vận. Để kịp thời lan tỏa những tấm gương điển hình, những cách làm hay, mô hình hiệu quả để công tác dân vận thực sự đi vào chiều sâu và hiệu quả thực chất hơn.
Năm là, tăng cường tiếp xúc, đối thoại, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; nắm bắt và nỗ lực giải quyết những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn phát triển của địa phương, những vấn đề dân sinh bức xúc, những vấn đề mà cử tri và nhân dân tỉnh Cao Bằng quan tâm.
Sáu là, nhân rộng, phát triển mô hình, điển hình “Dân vận khéo” ở những nơi khó khăn, phức tạp, các “điểm nóng”, bức xúc nổi cộm cũng như trong cải cách hành chính, thực hành đạo đức công vụ, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân...
Như vậy, từ việc nghiên cứu nhiệm vụ ban đầu của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân “coi trọng chính trị hơn quân sự” cũng như từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam, luôn có một bài học kinh nghiệm quý giá được đúc kết đó chính là trong mọi hoàn cảnh, Đảng ta luôn coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác dân vận, coi đó là gốc rễ của mọi công tác khác. Bài học này đã được Đảng bộ tỉnh Cao Bằng tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn địa phương và đã đạt hiệu quả tốt, qua đó huy động sức mạnh tổng hợp, tạo sự thống nhất, đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân trong thực hiện các nhiệm vụ mới, khó, phức tạp như hiện nay. Đây chính là yếu tố quan trọng để xây dựng quê hương Cao Bằng xứng đáng là chiếc nôi, là nguồn cội của cách mạng Việt Nam./.
Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng





