• dau-title
  • Nghiên cứu khoa học
  • cuoi-title

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI, AN SINH XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ MỚI

Thứ sáu - 06/12/2024 09:42

     Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống của nhân dân và đặc biệt chú ý đến vấn đề đói nghèo. Người đã đặt nền móng tư tưởng vĩ đại về “xóa đói, giảm nghèo”, an sinh xã hội cho nhân dân. Mục tiêu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội là vì cuộc sống hạnh phúc của mọi người dân, nhằm bảo đảm đời sống của người dân, từ những nhu cầu thiết yếu để tồn tại như: ăn, mặc, chỗ ở đến những nhu cầu cao hơn như học hành, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe..., đều mang những giá trị vượt trước với tinh thần phát triển bền vững, bao trùm của quốc gia, của nhân loại. Để thực hiện được điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải tiến hành đồng thời xây dựng, phát triển nền kinh tế vững chắc, toàn diện, kết hợp phát triển văn hóa, giáo dục, xây dựng con người mới có đạo đức mới, lối sống mới phù hợp. Đây là những tiền đề quan trọng cũng là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc hoạch định và thực thi chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
     Thực hiện tư tưởng của Người, mục tiêu chính sách xã hội là nhằm xây dựng và phát triển con người, đem lại cuộc sống hạnh phúc cho con người, góp phần lành mạnh hóa xã hội và phát triển bền vững đất nước. Với nhận thức đó, trong quá trình lãnh đạo đất nước, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lĩnh vực xã hội; nguồn lực đầu tư được tăng cường và đa dạng hóa; phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp nhân dân thực hiện chính sách xã hội, chăm lo cho con người, tạo động lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cụ thể đặt ra một số vấn đề trong thực hiện chính sách xã hội như: Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, chính sách lao động, việc làm, chính sách giảm nghèo bền vững, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách bảo trợ xã hội. Điều 59 Hiến pháp quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội”. Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1-6-2012, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, nêu rõ: “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”. Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 21/6/2012 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH TW Đảng khoá XI “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã được đánh giá một số thành quả trong thực hiện chính sách xã hội, an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay, bao gồm: một là, đã hình thành tư duy và nhận thức chính sách xã hội, an sinh xã hội luôn song hành với quá trình phát triển của xã hội, với chính sách phát triển kinh tế; hai là, đã xác lập tầm quan trọng của chính sách xã hội, an sinh xã hội trong tổng thể định hướng đường lối phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; ba là, lấy con người làm điểm xuất phát, mục tiêu, động lực; bốn là, chính sách xã hội, an sinh xã hội là công cụ giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội; năm là, chính sách xã hội, an sinh xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người; sáu là, tạo cơ hội, năng lực tiếp cận các nguồn lực để phát triển; bảy là, chính sách xã hội, an sinh xã hội hướng tới mục tiêu tối thượng vì con người; tám là, xuất phát từ trình độ, đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và địa phương; chín là, từng bước tập trung vào xử lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế- thực hiện công bằng xã hội-giải quyết, quản lý các vấn đề xã hội; mười là, nguồn lực: nhà nước, người dân, cộng đồng, quốc tế; mười một, phù hợp với chuẩn mực, giá trị xã hội hiện hành; mười hai, chính sách phải xuất phát từ thực tiễn và phục vụ cho ai; mười ba, hình thành và triển khai ba chiến lược trong hoạch định, thực hiện chính sách xã hội, an sinh xã hội: Phòng ngừa/giảm thiểu/khắc phục.
     Bên cạnh những thành tựu, kết quả đã đạt được việc hoạch định và thực hiện hệ thống chính sách xã hội, an sinh xã hội vẫn còn những hạn chế, bất cập sau đây: một là, chậm đổi mới, thiếu nhất quán trong tư duy nhận thức so với yêu cầu đặt ra; hai là, còn không ít biểu hiện tiêu cực, bất cập trong thực hiện; ba là, khả năng huy động ngân sách cho hệ thống chính sách xã hội, an sinh xã hội còn gặp nhiều khó khăn; bốn là, hệ thống chính sách xã hội, an sinh xã hội còn phân tán, manh mún, thiếu sự gắn kết; năm là, chưa có hệ thống lý luận vững chắc, chỉnh thể trong hoạch định phát triển hệ thống chính sách xã hội, an sinh xã hội phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay; sáu là, ban hành chính sách xã hội, an sinh xã hội tương đối tốt, tuy nhiên tính hiệu lực/hiệu quả chưa cao chưa tương xứng với mục tiêu, nguồn lực; bảy là, hệ thống giải pháp trong thực hiện chính sách xã hội, an sinh xã hội khá đồng bộ, nhưng còn thiếu tính chủ động và có khả năng ứng phó với những biến đổi khôn lường của thực tiễn; tám là, bất cập về trách nhiệm cụ thể, sự phối kết hợp của từng chủ thể có liên quan; chín là, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, nguồn lực, công nghệ trong thực hiện chính sách xã hội, an sinh xã hội còn bất cập; mười là, công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập, vận dụng chính sách xã hội, an sinh xã hội chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn[1].
     Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (1/2021) khẳng định, trong 35 năm đổi mới, Việt Nam đã: “Bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâm nâng cao phúc lợi xã hội cho người dân; thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công; tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương; mở rộng bảo hiểm xã hội; tỷ lệ bảo hiểm y tế đạt trên 90%. Hệ thống tổ chức y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô, năng lực, chất lượng y tế dự phòng, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống dịch bệnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở xã hội được quan tâm”[2]. Đồng thời Đảng ta chỉ ra trong những năm tới tiếp tục: “thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân”[3]. Như vậy, vấn đề chính sách xã hội, an sinh xã hội, an ninh con người được Đảng ta xác định là yếu tố xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước. Mục tiêu này sẽ được hiện thực hóa với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Phía trước còn nhiều thách thức, nhưng với nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm, bản lĩnh lãnh đạo của Đảng, Việt Nam vững bước tiến lên để “Đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[4]. Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về chính sách xã hội, an sinh xã hội, Chính phủ đã ban hành các văn bản như Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới”.
     Quán triệt, triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng về công tác chính sách xã hội, an sinh xã hội, những năm qua tỉnh Cao Bằng đã thực hiện tốt công tác đảm bảo an sinh xã hội có hiệu quả. Tỉnh đã triển khai đồng bộ, có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, như: chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người nghèo…, giúp người nghèo, các gia đình chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống. Tỉ lệ hộ nghèo bình quân hằng năm giảm 4,12% (từ 42,53 % đầu năm 2016 giảm xuống còn 22,07% cuối năm 2020), với trên 30.000 hộ thoát nghèo, bằng 206% mục tiêu Nghị quyết Đại hội[5]. Hết năm 2022, toàn tỉnh còn 37.409 hộ nghèo, chiếm 28,94%; 19.084 hộ cận nghèo, chiếm 14,76%[6]. Năm 2023 toàn tỉnh có trên 29.800 đối tượng đang hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội đưa ra nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu trong thời gian tới cần phải: “Phát triển toàn diện đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao, công nghệ thông tin và truyền thông; nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng xã hội học tập. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Triển khai đồng bộ, hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững và các chính sách về dân tộc, tôn giáo; đảm bảo an sinh xã hội phát triển toàn diện tiến tới bao phủ toàn dân. Triển khai đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030”[7].
     Vận dụng thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách xã hội, an sinh xã hội và phát triển bền vững đất nước góp phần giải quyết thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, vấn đề việc làm, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội với mục tiêu vì con người và vì lợi ích của nhân dân trong giai đoạn hiện nay./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 112.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 65-66.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 47.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 47.
[5] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 -2025, tr. 24-25.
[6] Cao Bằng: Năm 2023 phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo. Theo baocaobang.vn.
[7] Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cao Bằng lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 -2025, tr. 67-70.
CN. Lương Văn Thạch
Giảng viên khoa xây dựng Đảng

 

Những tin cũ hơn

Những tin mới hơn

 
circle-japan

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ HOÀNG ĐÌNH GIONG TỈNH CAO BẰNG
Địa chỉ: Phường Tân Giang, tỉnh Cao Bằng
Điện thoại: 026.3852.864 - 026.3759.488 -  Email: truongcthoangdinhgiong@gmail.com
Chịu trách nhiệm chính: (Bà) Trịnh Thị Ánh Hoa , Hiệu trưởng.
Ghi rõ nguồn (www.truongchinhtri.caobang.gov.vn) khi phát hành lại thông tin từ địa chỉ này.