• dau-title
  • Bài viết nghiên cứu, trao đổi
  • cuoi-title

VẬN DỤNG NGHỊ QUYẾT 57-NQ/TW VÀO GIẢNG DẠY HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TẠI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ HOÀNG ĐÌNH GIONG

Thứ ba - 18/11/2025 07:56

       Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, việc cập nhật kiến thức, đổi mới tư duy là yêu cầu cấp thiết đối với mọi lĩnh vực, đặc biệt là công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" là một chủ trương chiến lược, phản ánh tầm nhìn và sự quyết tâm của Đảng ta trong việc xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với hội nhập quốc tế.
       Nghị quyết 57-NQ/TW, Bộ Chính trị quán triệt yêu cầu thực hiện tốt các nội dung về quan điểm chỉ đạo; mục tiêu; nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, xác định rõ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược hàng đầu, động lực chính phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; tăng cường lãnh đạo của Đảng, huy động sức mạnh toàn hệ thống chính trị, người dân, doanh nghiệp là trung tâm và chủ thể, nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện; thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước; bảo đảm chủ quyền, an ninh mạng và an toàn dữ liệu trong toàn bộ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
       Mục tiêu là đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu đạt trình độ khoa học, công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu các nước có thu nhập trung bình cao; một số lĩnh vực đạt trình độ quốc tế. Việt Nam nằm trong nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á và 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số, Chính phủ điện tử; có tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm quốc tế. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao đạt tối thiểu 50%; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP;  giao dịch không tiền mặt đạt 80%. Chi cho R&D đạt 2% GDP, nhân lực nghiên cứu KHCN đạt 12 người/ một vạn dân, công bố quốc tế tăng 10%/năm. Hạ tầng số hiện đại, phủ sóng 5G toàn quốc, đô thị thông minh được hình thành, quản lý nhà nước vận hành trên môi trường số. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao; kinh tế số chiếm 50% GDP, thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là trung tâm công nghiệp công nghệ số khu vực; có tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ ngang tầm quốc tế.
       Để đạt được các mục tiêu này, Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như: Nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, tạo đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; hoàn thiện thể chế, tháo gỡ rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển; đầu tư, hoàn thiện hạ tầng khoa học, công nghệ và hạ tầng số quốc gia; phát triển và trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài khoa học - công nghệ; ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động của hệ thống chính trị; thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.
       Tại Trường Chính trị Hoàng Đình Giong, việc quán triệt, vận dụng và triển khai Nghị quyết số 57- NQ/TW vào giảng dạy không chỉ giúp bài giảng lý luận thêm sinh động, thiết thực mà còn trang bị cho học viên những kiến thức nền tảng, giúp họ nắm vững bản chất, quy luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác tại địa phương, nhất là học phần Kinh tế chính trị trong chương trình trung cấp lý luận chính trị, có ý nghĩa thiết thực, góp phần gắn lý luận với thực tiễn, nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
       Trong chương trình Trung cấp lý luận, học phần Kinh tế chính trị Mác-Lênin gồm 6 bài về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những định hướng của Nghị quyết này là cơ sở thực tiễn quan trọng để giảng viên vận dụng vào học phần Kinh tế chính trị Mác - Lênin, giúp làm rõ mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Đây cũng là một minh chứng sinh động cho việc Đảng ta vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận Mác-Lênin trong điều kiện mới. Cụ thể:

       Trong phần A.III. Kinh tế chính trị về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bài 12. Nền sản xuất hàng hóa và quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. Khi giảng về mục 1. Hàng hóa và thuộc tính của hàng hóa, giảng viên vận dụng Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong việc mở rộng giá trị sử dụng, nâng cao chất lượng, giảm hao phí lao động. Dẫn chứng, mục tiêu đến năm 2030, tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ đạt ít nhất 50% tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu thể hiện định hướng phát triển hàng hóa có hàm lượng công nghệ và tri thức cao. Gắn với nhóm giải pháp Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Mục 2.2. Chức năng của tiền. Khi phân tích các chức năng của tiền, giảng viên cần chỉ ra rõ: Trong bối cảnh mới, dưới tác động của Nghị quyết số 57- NQ/TW, các chức năng này càng gắn với công nghệ số từ thanh toán điện tử, ngân hàng số đến các giao dịch xuyên biên giới nhanh chóng và an toàn. Đặc biệt, mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80% đã khẳng định xu thế tất yếu của nền kinh tế số, góp phần nâng cao tính minh bạch, giảm chi phí giao dịch và tăng hiệu quả lưu thông tiền tệ trong toàn xã hội Gắn với giải pháp đầu tư, hoàn thiện hạ tầng số quốc gia và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ trong hệ thống tài chính – ngân hàng. Đối với mục 4. Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. Giảng viên vận dụng nghị quyết để từ đó thấy được việc ứng dụng KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành chìa khóa để để dẫn chứng ở phần Mục tiêu đến năm 2030, năng suất nhân tố tổng hợp đóng góp trên 50% vào tăng trưởng kinh tế, cùng với việc (trên 60% từ khu vực xã hội), chính là những chỉ số cụ thể hóa tác động của quy luật giá trị trong điều kiện mới. Như vậy, quy luật không chỉ giữ vai trò điều tiết tự nhiên của thị trường mà còn được Nhà nước định hướng, quản lý bằng chính sách số hóa, đầu tư KHCN và đào tạo nhân lực, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và công bằng xxa hội theo định hướng XHCN.
       Đối với phần A.IV Kinh tế chính trị về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Bài 16. Đặc điểm kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong mục 3. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về đặc điểm kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Giảng viên phân tích vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong Văn kiện Đại hội XIII có thể thấy điểm chung là tất cả gắn với nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hiện đại hóa tức là cần khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực. Giảng viên vận dụng Phần Mục tiêu của Nghị quyết nhấn mạnh xác định phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với KHCN, hoàn thiện quan hệ sản xuất nhằm tạo môi trường để các thành phần kinh tế cùng phát huy lợi thế. Nghị quyết cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55% vào tăng trưởng kinh tế, kinh tế số chiếm 30% GDP. Từ đó, kinh tế nhà nước phải tiên phong ứng dụng công nghệ số; kinh tế tập thể đổi mới mô hình để tăng năng suất; kinh tế tư nhân phát triển dựa trên sáng tạo; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với công nghệ cao, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Việc thực hiện các nhóm giải pháp của Nghị quyết như nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng số, phát triển nhân lực chất lượng cao, ứng dụng KHCN trong hệ thống chính trị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp là cơ sở để các thành phần kinh tế phát triển đồng bộ, hài hòa. Bài 17. Những nhiệm vụ kinh tế cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong mục 1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Theo Hồ Chí Minh, “ Máy móc là chủ chốt của tư liệu sản xuất…”, giảng viên vận dụng tư tưởng này trong bối cảnh hiện nay bằng cách liên hệ Phần mục tiêu của Nghị quyết, trong đó xác định khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá hàng đầu, tức là “máy móc thời đại mới” (AI, dữ liệu lớn, IoT,điện toán đám mây, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi) nhằm nâng cao năng suất lao động. Nghị quyết đặt ra các mục tiêu rõ ràng: đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%, quy mô kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP (với tầm nhìn đến năm 2045 đạt 50% GDP), và tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%. Đảng xác định đầu tư cho R&D đạt 2% GDP, chi ngân sách cho KHCN tối thiểu 3%, kinh tế số chiếm 30% GDP, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trên 40%. Đây là minh chứng cho việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn với hoàn thiện quan hệ sản xuất mới.Cùng với đó, nhấn mạnh các giải pháp trong nghị quyết như tháo gỡ rào cản thể chế, đầu tư hạ tầng số, phát triển nhân lực KHCN, tăng hợp tác quốc tế và ứng dụng chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, sản xuất giúp tạo môi trường thuận lợi, minh bạch để mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, hiệu quả trong thời kỳ quá độ. Mục 2.2. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng quan hệ sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở mục này nêu lên đường lối hoàn thiện thể chế, phát triển kinh tế nhiều thành phần trong khuôn khổ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Giảng viên vận dụng Nghị quyết 57- NQ/TW để làm rõ các giải pháp cụ thể: phát triển Chính phủ số, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia, đặt mục tiêu tỉ lệ người dân và doanh nghiệp giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu phủ sóng 5G toàn quốc, xây dựng hạ tầng số dung lượng lớn và thu hút ít nhất 3 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam để minh chứng rằng Đảng cụ thể hóa bằng những chỉ tiêu và giải pháp rõ ràng như giao dịch không dùng tiền mặt, phủ sóng 5G… Những giải pháp này góp phần tạo môi trường thể chế minh bạch, thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, phù hợp với yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại.
        Việc vận dụng Nghị quyết 57-NQ/TW vào giảng dạy học phần Kinh tế Chính trị tại Trường Chính trị Hoàng Đình Giong đã trở thành bước đột phá quan trọng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đây không chỉ là sự cập nhật tri thức mới, mà còn là minh chứng sinh động cho việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ. Nghị quyết đã tạo nền tảng thực tiễn vững chắc, giúp giảng viên lồng ghép nội dung về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào bài giảng một cách tự nhiên, thuyết phục. Nhờ đó, chất lượng giảng dạy được nâng cao, bài học trở nên gần gũi, thiết thực hơn. Học viên không chỉ nắm chắc lý luận mà còn hiểu rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng, có khả năng vận dụng linh hoạt vào thực tiễn công tác tại địa phương, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Trần Thị Thu Hương
Khoa Lý luận cơ sở

Những tin cũ hơn

Những tin mới hơn

 
circle-japan

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TRƯỜNG CHÍNH TRỊ HOÀNG ĐÌNH GIONG TỈNH CAO BẰNG
Địa chỉ: Phường Tân Giang, tỉnh Cao Bằng
Điện thoại: 026.3852.864 - 026.3759.488 -  Email: truongcthoangdinhgiong@gmail.com
Chịu trách nhiệm chính: (Bà) Trịnh Thị Ánh Hoa , Hiệu trưởng.
Ghi rõ nguồn (www.truongchinhtri.caobang.gov.vn) khi phát hành lại thông tin từ địa chỉ này.