
- Nghiên cứu khoa học

VAI TRÒ CỦA HỘI NÔNG DÂN CAO BẰNG TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
Thứ sáu - 23/10/2026 09:11
Trải qua 96 năm xây dựng và phát triển (14/10/1930 - 14/10/2026), Hội Nông dân Việt Nam đã khẳng định vai trò quan trọng trong phong trào nông dân. Phát huy truyền thống ấy, trong tình hình mới, các cấp Hội cần tiếp tục đổi mới hoạt động, nâng cao hiệu quả hỗ trợ và đồng hành cùng nông dân. Tại Cao Bằng, nơi nông dân chiếm 74,5% dân số, với tổng số 94.458 hội viên nông dân, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong giảm nghèo bền vững. Với mạng lưới tổ chức sâu rộng, gần gũi cơ sở, các cấp Hội Nông dân trong tỉnh giữ vai trò quan trọng trong nắm bắt nhu cầu, kết nối nguồn lực, hỗ trợ phát triển sinh kế và mở rộng cơ hội việc làm cho người dân.
Đào tạo nghề là cơ sở để người lao động nâng cao khả năng tìm kiếm và tự tạo việc làm. Với mạng lưới tổ chức ở cơ sở, Hội có điều kiện nắm bắt nhu cầu học nghề, phối hợp lựa chọn nội dung đào tạo phù hợp với đặc điểm sản xuất của từng địa bàn. Giai đoạn 2023-2025, các cấp Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng đã phối hợp đào tạo nghề cho gần 6.500 hội viên và lao động nông thôn. Các nghề trồng trọt, chăn nuôi, sửa chữa máy nông nghiệp, xây dựng tạo điều kiện để người học vận dụng kiến thức tại hộ gia đình hoặc tham gia dịch vụ ở địa phương. Hoạt động tư vấn nghề nghiệp và giới thiệu việc làm giúp hội viên có thêm thông tin để lựa chọn công việc. Qua đó, Hội thực hiện chức năng kết nối giữa người học với đơn vị đào tạo và nhu cầu sử dụng lao động, góp phần đưa đào tạo nghề đến gần hơn với yêu cầu phát triển sinh kế.
Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất là một cách Hội Nông dân Cao Bằng góp phần giải quyết việc làm ngay tại địa phương. Thông qua Quỹ Hỗ trợ nông dân và hoạt động phối hợp cung ứng vật tư trả chậm, chuyển giao kỹ thuật, các cấp Hội giúp hội viên tiếp cận những nguồn lực cần thiết để đầu tư, duy trì và mở rộng sinh kế. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Quỹ đã giải ngân hơn 21,1 tỷ đồng cho 428 hộ vay. Nguồn vốn gắn với hướng dẫn kỹ thuật tạo điều kiện để các hộ tổ chức sản xuất, sử dụng lao động gia đình và phát triển các hoạt động tạo thu nhập. Khi quy mô sản xuất được mở rộng, nhu cầu thuê lao động, sử dụng dịch vụ làm đất, vận chuyển và thu hoạch cũng có cơ hội tăng lên. Qua đó, Hội thực hiện vai trò kết nối nguồn lực phát triển sản xuất với nhu cầu tự tạo việc làm của nông dân, đồng thời góp phần mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nông thôn.
Vai trò tổ chức liên kết sản xuất và phát huy các chủ thể tạo việc làm thể hiện qua phát triển kinh tế tập thể và phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi. Các cấp Hội vận động, hướng dẫn nông dân tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã để trao đổi kỹ thuật, phối hợp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Liên kết giúp các hộ tập hợp nguồn lực, phân công công việc và đáp ứng những yêu cầu mà từng hộ riêng lẻ khó thực hiện. Phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi phát huy vai trò của những hộ có kinh nghiệm và khả năng tổ chức sản xuất trong cộng đồng. Giai đoạn 2023-2025, các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi đã tạo việc làm tại chỗ cho 3.895 lao động nông thôn. Đây là kết quả thể hiện trực tiếp đóng góp của phong trào đối với giải quyết việc làm. Thông qua vận động, kết nối và nhân rộng mô hình hiệu quả, Hội hỗ trợ hình thành các chủ thể có khả năng sử dụng lao động, đồng thời khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm, vốn và tư liệu sản xuất để các hộ khác phát triển sinh kế.
Hội Nông dân giữ vai trò kết nối thị trường, hỗ trợ duy trì sản xuất và mở rộng cơ hội việc làm trong các khâu tiêu thụ nông sản. Việc làm trong nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào đầu ra sản phẩm, bởi khả năng tiêu thụ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, quy mô sản xuất và nhu cầu sử dụng lao động. Giai đoạn 2023-2025, các cấp Hội đã hỗ trợ đưa 330 mặt hàng nông sản đặc hữu địa phương lên sàn thương mại điện tử; trong 9 tháng đầu năm 2026, tiếp tục duy trì 4 cửa hàng nông sản an toàn để giới thiệu, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Thông qua các hoạt động này, Hội hỗ trợ nông hộ và hợp tác xã mở thêm kênh tiếp cận khách hàng, từng bước gắn hoạt động sản xuất với nhu cầu thị trường. Việc mở rộng đầu ra tạo cơ sở để người sản xuất duy trì công việc, đồng thời phát triển thêm các khâu sơ chế, đóng gói, bán hàng và giao nhận.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động nông thôn còn một số hạn chế như: hoạt động tư vấn, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân chưa được tổ chức thường xuyên; các tổ hợp tác, chi hội, tổ hội nông dân nghề nghiệp được thành lập còn ít, hoạt động nhỏ lẻ, chưa có mô hình, sản phẩm tiêu biểu. Những hạn chế này làm giảm khả năng hỗ trợ liên tục từ hướng dẫn kỹ thuật đến tổ chức sản xuất, trong khi người dân cần được đồng hành để duy trì và phát triển sinh kế. Quy mô liên kết nhỏ cũng hạn chế khả năng tập hợp nguồn lực, phân công công việc và mở rộng nhu cầu sử dụng lao động. Một số cơ sở Hội còn thiếu cán bộ, phương tiện hoạt động, ảnh hưởng đến việc nắm bắt nhu cầu và triển khai hỗ trợ. Đây là những trở ngại cần khắc phục để Hội phát huy tốt hơn vai trò kết nối nguồn lực, hỗ trợ tự tạo việc làm và mở rộng việc làm tại địa phương.
Từ những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại, cần tiếp tục đổi mới hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, khảo sát nhu cầu học nghề, việc làm và phát triển sản xuất của từng nhóm lao động. Hội phối hợp với chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp lựa chọn ngành nghề, hình thức hỗ trợ phù hợp với điều kiện địa phương và nhu cầu thị trường.
Hai là, gắn đào tạo nghề với thực hành và cơ hội việc làm. Tăng cường phối hợp với cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp; huy động nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tham gia truyền nghề, hỗ trợ tuyển dụng và vận dụng nghề sau đào tạo.
Ba là, kết hợp hỗ trợ vốn với hướng dẫn kỹ thuật, quản lý chi phí và phòng ngừa rủi ro. Phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân, phối hợp mở rộng tiếp cận tín dụng; ưu tiên phương án sản xuất khả thi, có đầu ra và khả năng tạo việc làm tại chỗ.
Bốn là, củng cố các chi, tổ Hội nghề nghiệp, tổ hợp tác và hợp tác xã; hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, liên kết sản xuất và tiêu thụ. Nhân rộng mô hình tạo việc làm hiệu quả, phù hợp với điều kiện Cao Bằng; khuyến khích phát triển chế biến, dịch vụ gắn với nông nghiệp.
Năm là, tăng cường kết nối nông hộ, hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua, chế biến và phân phối. Hỗ trợ nâng cao chất lượng nông sản, hướng dẫn kỹ năng bán hàng trực tuyến và xử lý đơn hàng để mở rộng thị trường, duy trì sản xuất và việc làm.
Sáu là, bồi dưỡng cán bộ Hội về tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ sinh kế và kết nối doanh nghiệp; xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các đơn vị. Theo dõi kết quả hỗ trợ qua khả năng vận dụng nghề, duy trì việc làm và cải thiện thu nhập để kịp thời điều chỉnh hoạt động.
Tóm lại, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Cao Bằng cần gắn nâng cao kỹ năng với phát triển sản xuất và mở rộng thị trường. Hội Nông dân giữ vai trò cầu nối, huy động và kết nối nguồn lực phù hợp với nhu cầu của người dân. Phát huy vai trò này sẽ giúp nông dân chủ động tạo việc làm, nâng cao thu nhập và phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.
---------------------
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 20/12/2023 về đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
2. Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng (2025), Báo cáo số 05-BC/HNDT ngày 24/12/2025 Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khóa IX, nhiệm kỳ 2023 - 2028 trình Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
3. Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng (2026), Báo cáo số 114-BC/HNDT ngày 18/9/2026 Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh về kết quả công tác Hội và phong trào nông dân 9 tháng nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2026.
Hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất là một cách Hội Nông dân Cao Bằng góp phần giải quyết việc làm ngay tại địa phương. Thông qua Quỹ Hỗ trợ nông dân và hoạt động phối hợp cung ứng vật tư trả chậm, chuyển giao kỹ thuật, các cấp Hội giúp hội viên tiếp cận những nguồn lực cần thiết để đầu tư, duy trì và mở rộng sinh kế. Trong 9 tháng đầu năm 2026, Quỹ đã giải ngân hơn 21,1 tỷ đồng cho 428 hộ vay. Nguồn vốn gắn với hướng dẫn kỹ thuật tạo điều kiện để các hộ tổ chức sản xuất, sử dụng lao động gia đình và phát triển các hoạt động tạo thu nhập. Khi quy mô sản xuất được mở rộng, nhu cầu thuê lao động, sử dụng dịch vụ làm đất, vận chuyển và thu hoạch cũng có cơ hội tăng lên. Qua đó, Hội thực hiện vai trò kết nối nguồn lực phát triển sản xuất với nhu cầu tự tạo việc làm của nông dân, đồng thời góp phần mở rộng cơ hội việc làm cho lao động nông thôn.
Vai trò tổ chức liên kết sản xuất và phát huy các chủ thể tạo việc làm thể hiện qua phát triển kinh tế tập thể và phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi. Các cấp Hội vận động, hướng dẫn nông dân tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã để trao đổi kỹ thuật, phối hợp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Liên kết giúp các hộ tập hợp nguồn lực, phân công công việc và đáp ứng những yêu cầu mà từng hộ riêng lẻ khó thực hiện. Phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi phát huy vai trò của những hộ có kinh nghiệm và khả năng tổ chức sản xuất trong cộng đồng. Giai đoạn 2023-2025, các hộ sản xuất, kinh doanh giỏi đã tạo việc làm tại chỗ cho 3.895 lao động nông thôn. Đây là kết quả thể hiện trực tiếp đóng góp của phong trào đối với giải quyết việc làm. Thông qua vận động, kết nối và nhân rộng mô hình hiệu quả, Hội hỗ trợ hình thành các chủ thể có khả năng sử dụng lao động, đồng thời khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm, vốn và tư liệu sản xuất để các hộ khác phát triển sinh kế.
Hội Nông dân giữ vai trò kết nối thị trường, hỗ trợ duy trì sản xuất và mở rộng cơ hội việc làm trong các khâu tiêu thụ nông sản. Việc làm trong nông nghiệp phụ thuộc chặt chẽ vào đầu ra sản phẩm, bởi khả năng tiêu thụ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, quy mô sản xuất và nhu cầu sử dụng lao động. Giai đoạn 2023-2025, các cấp Hội đã hỗ trợ đưa 330 mặt hàng nông sản đặc hữu địa phương lên sàn thương mại điện tử; trong 9 tháng đầu năm 2026, tiếp tục duy trì 4 cửa hàng nông sản an toàn để giới thiệu, kết nối tiêu thụ sản phẩm. Thông qua các hoạt động này, Hội hỗ trợ nông hộ và hợp tác xã mở thêm kênh tiếp cận khách hàng, từng bước gắn hoạt động sản xuất với nhu cầu thị trường. Việc mở rộng đầu ra tạo cơ sở để người sản xuất duy trì công việc, đồng thời phát triển thêm các khâu sơ chế, đóng gói, bán hàng và giao nhận.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của Hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động nông thôn còn một số hạn chế như: hoạt động tư vấn, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân chưa được tổ chức thường xuyên; các tổ hợp tác, chi hội, tổ hội nông dân nghề nghiệp được thành lập còn ít, hoạt động nhỏ lẻ, chưa có mô hình, sản phẩm tiêu biểu. Những hạn chế này làm giảm khả năng hỗ trợ liên tục từ hướng dẫn kỹ thuật đến tổ chức sản xuất, trong khi người dân cần được đồng hành để duy trì và phát triển sinh kế. Quy mô liên kết nhỏ cũng hạn chế khả năng tập hợp nguồn lực, phân công công việc và mở rộng nhu cầu sử dụng lao động. Một số cơ sở Hội còn thiếu cán bộ, phương tiện hoạt động, ảnh hưởng đến việc nắm bắt nhu cầu và triển khai hỗ trợ. Đây là những trở ngại cần khắc phục để Hội phát huy tốt hơn vai trò kết nối nguồn lực, hỗ trợ tự tạo việc làm và mở rộng việc làm tại địa phương.
Từ những kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại, cần tiếp tục đổi mới hoạt động của Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tập trung vào một số giải pháp sau:
Một là, khảo sát nhu cầu học nghề, việc làm và phát triển sản xuất của từng nhóm lao động. Hội phối hợp với chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp lựa chọn ngành nghề, hình thức hỗ trợ phù hợp với điều kiện địa phương và nhu cầu thị trường.
Hai là, gắn đào tạo nghề với thực hành và cơ hội việc làm. Tăng cường phối hợp với cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp; huy động nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tham gia truyền nghề, hỗ trợ tuyển dụng và vận dụng nghề sau đào tạo.
Ba là, kết hợp hỗ trợ vốn với hướng dẫn kỹ thuật, quản lý chi phí và phòng ngừa rủi ro. Phát triển Quỹ Hỗ trợ nông dân, phối hợp mở rộng tiếp cận tín dụng; ưu tiên phương án sản xuất khả thi, có đầu ra và khả năng tạo việc làm tại chỗ.
Bốn là, củng cố các chi, tổ Hội nghề nghiệp, tổ hợp tác và hợp tác xã; hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, liên kết sản xuất và tiêu thụ. Nhân rộng mô hình tạo việc làm hiệu quả, phù hợp với điều kiện Cao Bằng; khuyến khích phát triển chế biến, dịch vụ gắn với nông nghiệp.
Năm là, tăng cường kết nối nông hộ, hợp tác xã với doanh nghiệp thu mua, chế biến và phân phối. Hỗ trợ nâng cao chất lượng nông sản, hướng dẫn kỹ năng bán hàng trực tuyến và xử lý đơn hàng để mở rộng thị trường, duy trì sản xuất và việc làm.
Sáu là, bồi dưỡng cán bộ Hội về tư vấn nghề nghiệp, hỗ trợ sinh kế và kết nối doanh nghiệp; xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các đơn vị. Theo dõi kết quả hỗ trợ qua khả năng vận dụng nghề, duy trì việc làm và cải thiện thu nhập để kịp thời điều chỉnh hoạt động.
Tóm lại, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở Cao Bằng cần gắn nâng cao kỹ năng với phát triển sản xuất và mở rộng thị trường. Hội Nông dân giữ vai trò cầu nối, huy động và kết nối nguồn lực phù hợp với nhu cầu của người dân. Phát huy vai trò này sẽ giúp nông dân chủ động tạo việc làm, nâng cao thu nhập và phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.
---------------------
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương (2023), Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 20/12/2023 về đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
2. Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng (2025), Báo cáo số 05-BC/HNDT ngày 24/12/2025 Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khóa IX, nhiệm kỳ 2023 - 2028 trình Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2025 - 2030.
3. Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh Cao Bằng (2026), Báo cáo số 114-BC/HNDT ngày 18/9/2026 Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh về kết quả công tác Hội và phong trào nông dân 9 tháng nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2026.
ThS. Nguyễn Thị Oanh
Giảng viên phòng Quản lý Đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học
Giảng viên phòng Quản lý Đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học