
- Nghiên cứu khoa học

TỪ CHÂN LÝ “CHÍNH TRỊ TRỌNG HƠN QUÂN SỰ” ĐẾN BẢN ÁN ĐANH THÉP ĐẬP TAN ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI”
Thứ ba - 03/11/2026 11:42
1. Vạch trần những biến tướng tinh vi, xảo quyệt của âm mưu "phi chính trị hóa quân đội" trong tình hình mới
Trong kỷ nguyên số, các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng để phát tán những luận điệu xuyên tạc tinh vi, núp bóng "khoa học" và "dân chủ" nhằm tước bỏ quyền lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Thay vì công kích trực diện, chúng ráo riết triển khai âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội qua các thủ đoạn phản động, phi khoa học sau đây:
Thứ nhất, thủ đoạn đánh tráo khái niệm về “sự trung thành” của quân đội hòng đối lập Đảng với quốc gia, dân tộc.
Thông qua các nền tảng mạng xã hội và hệ thống truyền thông thù địch hải ngoại (như VOA, RFA, Việt Tân…), chúng liên tục rêu rao luận điệu: Quân đội là của quốc gia, vũ khí trang bị được mua sắm bằng tiền thuế của dân, do đó quân đội chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân, phải giữ thế “phi đảng phái”. Chúng viện dẫn mô hình quân đội của một số nước tư bản – nơi quân đội tuyên thệ trung thành với Hiến pháp để làm “khuôn vàng thước ngọc” hòng ép Việt Nam rập khuôn. Thực chất, đây là một cái bẫy cực kỳ thâm độc nhằm đánh tráo khái niệm, bóp méo bản chất giai cấp của nhà nước và chia cắt khối đại đoàn kết thống nhất ở Việt Nam.
Ở một số nước tư bản, vỏ bọc “quân đội phi đảng phái” chỉ là màn kịch tinh vi che đậy bản chất công cụ bạo lực bảo vệ ách thống trị của giới tài phiệt, lực lượng này sẵn sàng đàn áp đẫm máu nhân dân lao động khi quyền lợi của giai cấp tư sản cầm quyền bị đe dọa. Ngược lại, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng hoàn toàn đồng nhất với lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Do đó, đối với mỗi quân nhân cách mạng, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và với Nhân dân là một chỉnh thể thiêng liêng, không tách rời. Việc rêu rao luận điệu đòi quân đội “chỉ trung thành với Tổ quốc, không cần trung thành với Đảng” chính là nhát dao hiểm độc hòng chặt đứt “bộ não” lãnh đạo, đẩy quân đội vào trạng thái mất phương hướng chính trị, dẫn đến tự suy yếu và tan rã từ bên trong.
Thứ hai, lợi dụng xu thế “hiện đại hóa quân đội” và Cách mạng công nghiệp 4.0 để hạ thấp vai trò của công tác đảng, công tác chính trị.
Một biến tướng vô cùng tinh vi và thâm độc khác của âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” hiện nay là luận điệu “kỹ trị hóa quân sự”. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lập luận ngụy biện rằng: Trong bối cảnh chiến tranh công nghệ cao, sự lên ngôi của trí tuệ nhân tạo (AI), tác chiến không gian mạng và vũ khí thông minh (UAV)... sức mạnh quân đội được quyết định tuyệt đối bởi yếu tố kỹ thuật và năng lực tác chiến điện tử. Từ bẫy nhận thức đó, chúng rêu rao rằng công tác đảng, công tác chính trị, giáo dục lý luận hay học tập nghị quyết đã trở nên “lỗi thời”, “mất thời gian”, “cản trở” tính chuyên nghiệp của quân đội hiện đại. Thủ đoạn của chúng là cổ xúy lối sống thực dụng, sùng bái vũ khí, từ đó từng bước hạ bệ và tiến tới thủ tiêu hoàn toàn vai trò của tổ chức đảng và cơ quan chính trị trong lực lượng vũ trang.
Sự xảo trá của luận điệu này nằm ở chỗ, chúng cố tình lợi dụng chủ trương đúng đắn của Đảng ta về xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại để cài cắm mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội”. Chúng lờ đi một quy luật bất di bất dịch: Công tác đảng, công tác chính trị chính là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội Nhân dân Việt Nam; vũ khí dẫu hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được yếu tố chính trị, tinh thần của người sử dụng. Trong chiến tranh công nghệ cao, mức độ khốc liệt, sức tàn phá và áp lực tâm lý là vô cùng khủng khiếp. Nếu thiếu đi sự rèn luyện, định hướng từ công tác đảng, công tác chính trị, người chiến sĩ sẽ đánh mất bản lĩnh kiên định, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, khi đó, những vũ khí tối tân có thể rơi vào tay kẻ thù hoặc quay ngược mũi giáo tàn phá chế độ.
Do đó, mưu đồ “kỹ trị hóa” hạ thấp công tác chính trị thực chất là thủ đoạn thâm độc nhằm cắt đứt cội nguồn sức mạnh, đánh sập hệ thống “miễn dịch” tư tưởng của lực lượng vũ trang cách mạng. Mục đích tối hậu của chúng là biến Quân đội ta thành một cỗ máy quân sự mù quáng, rỗng tuếch về lý tưởng, dễ dàng rơi vào bẫy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và bị đánh gục hoàn toàn từ bên trong.
Thứ ba, bôi nhọ chức năng “đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” hòng cô lập lực lượng vũ trang với Nhân dân.
Từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm định hình và đúc kết trọn vẹn các chức năng cốt lõi của lực lượng vũ trang. Người từng căn dặn: “…toàn quân phải đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng quân đội ta thành một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu, học tập giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi”[1]. Lời huấn thị sâu sắc này không chỉ là mệnh lệnh, mà còn là kim chỉ nam định rõ bản chất bẩm sinh, không thể tách rời của Quân đội Nhân dân Việt Nam: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Sự thống nhất biện chứng giữa ba thành tố trên chính là cội nguồn tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Quân đội vừa bảo vệ vững chắc nền độc lập, vừa bám rễ sâu vào quần chúng để kiến tạo “thế trận lòng dân”.
Tuy nhiên, các thế lực phản động liên tục mượn cớ xây dựng “quân đội chuyên nghiệp” để công kích kịch liệt vào chức năng công tác và lao động sản xuất của Quân đội ta. Các thế lực thù địch thường cắt ghép, bóp méo những vi phạm kỷ luật đơn lẻ của một vài cá nhân để thổi phồng thành “bản chất”, vu cáo quân đội làm kinh tế là “tranh giành lợi ích” hay “lũng đoạn nền kinh tế”. Từ đó, chúng kích động, đòi quân đội phải “rút về doanh trại”, nhằm tách rời lực lượng vũ trang khỏi đời sống kinh tế - xã hội. Thực chất, đây là thủ đoạn thâm độc hòng cắt đứt mối liên hệ máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân, từng bước đẩy Quân đội vào thế cô lập để dễ bề vô hiệu hóa. Bởi lẽ, việc Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo không chỉ góp phần tự chủ của cải, giảm gánh nặng ngân sách, mà quan trọng hơn, là phương thức cốt lõi để củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc từ sớm, từ xa.
Có thể thấy rõ đích đến cuối cùng của âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong; làm cho cán bộ, chiến sĩ “nhạt Đảng, khô Đoàn”, tiến tới vô hiệu hóa hoàn toàn công cụ bạo lực sắc bén của chế độ. Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 chính là minh chứng điển hình nhất. Khi Đảng Cộng sản Liên Xô mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối, chấp nhận đa nguyên chính trị và thủ tiêu nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, lực lượng vũ trang Liên Xô lập tức rơi vào cạm bẫy “trung lập hóa”, đứng im bất lực nhìn chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã. Bài học lịch sử xót xa này vĩnh viễn là một hồi chuông cảnh tỉnh, khẳng định một chân lý: Buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội chính là tự tước đi "lá chắn" bảo vệ chế độ, mở đường cho sự sụp đổ của toàn bộ sự nghiệp cách mạng.
Như vậy, nhận diện một cách đầy đủ, tường tận và lột trần mọi lớp vỏ ngụy trang của mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội” là yêu cầu cấp thiết. Đây chính là cơ sở cốt lõi để chúng ta mài sắc tư duy lý luận, triển khai các đòn phản bác đanh thép để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
2. Sức sống trường tồn của tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” đập tan mọi luận điệu “phi chính trị hóa quân đội”
2.1. Từ tính tất yếu khách quan đến sự sáng tạo độc đáo trong Chỉ thị thành lập và 10 Lời thề danh dự
Để vạch trần dã tâm “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù, cần khẳng định rõ: Nền tảng chính trị của Quân đội ta hoàn toàn không phải là sự gán ghép chủ quan, mà là một tất yếu khách quan, được kết tinh từ nguyên lý mácxít và quy luật vận động sáng tạo của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Về tính tất yếu khách quan: Xét trên phương diện lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ quân đội bản chất là công cụ bạo lực của một giai cấp, tuyệt đối không tồn tại một đội quân “phi giai cấp” hay “đứng ngoài chính trị”. V.I. Lênin từng đanh thép nhấn mạnh: “... những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị v.v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”.[2] Xét trên phương diện thực tiễn, sự thất bại của các phong trào yêu nước trước năm 1930 đã để lại bài học xương máu: Bạo lực vũ trang nếu thiếu vắng đường lối chính trị soi đường và một tổ chức tiên phong lãnh đạo tất yếu sẽ đi vào ngõ cụt. Nhận thức sâu sắc quy luật đó, ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (năm 1930), Đảng ta đã xác lập quyền lãnh đạo đối với lực lượng vũ trang. Do đó, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quân đội không chỉ là nguyên tắc lý luận, mà chính là sự lựa chọn tất yếu, duy nhất đúng của lịch sử dân tộc.
Về sự sáng tạo độc đáo chân lý “chính trị trọng hơn quân sự”:
Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cấp thiết của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, trong bản Chỉ thị thành lập đội quân chủ lực đầu tiên, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định:“Tên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự... Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”[3]. Trong nhãn quan thiên tài của Bác, “chính trị” không đơn thuần là nhiệm vụ tuyên truyền ban đầu mà bao hàm những giá trị về bản chất, chức năng và lý tưởng. Chân lý ấy không chỉ nằm trên trang giấy của bản Chỉ thị, mà lập tức hóa thân thành kỷ luật thép qua 10 Lời thề danh dự được vang lên dưới tán rừng Trần Hưng Đạo ngày 22/12/1944. Chính sự dung hợp biện chứng giữa tư tưởng chỉ đạo trong bản Chỉ thị và những lời thề sắt son này đã bước đầu kiến tạo nên các trụ cột lý luận đanh thép của chân lý “chính trị trọng hơn quân sự”:
Thứ nhất, “Chính trị” là sự khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không tự nhiên sinh ra, mà là sản phẩm tất yếu từ đường lối chính trị, quân sự của Đảng. Trong Chỉ thị thành lập, Lãnh tụ Hồ Chí Minh quy định rõ: “Muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích... những cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất"[4]. Cụm từ “theo chỉ thị mới của Đoàn thể” (tức Đảng Cộng sản Đông Dương) mang ý nghĩa nguyên tắc cực kỳ sâu sắc. Nó là lời tuyên ngôn đanh thép khẳng định cội nguồn ra đời và quyền lãnh đạo tối cao của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Quân đội ta được tổ chức ra trước hết là để phục tùng và hiện thực hóa đường lối, mục tiêu chính trị của Đảng. Việc tổ chức Đảng đóng vai trò chủ thể trực tiếp “chọn lọc” những hạt nhân ưu tú nhất đã định hình “tính Đảng”, cấy lập trường giai cấp kiên định vào ngay huyết mạch của Quân đội từ thuở phôi thai.
Lập trường giai cấp và sự giác ngộ chính trị ấy lập tức được chuyển hóa thành mục tiêu chiến đấu tối cao, vang lên trong Lời thề danh dự đầu tiên: “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng... làm cho nước Việt Nam trở thành một nước dân chủ, độc lập, tự do”[5]. Khác hoàn toàn với quân đội của các nhà nước bóc lột được lập ra để bảo vệ quyền lợi của giới tinh hoa cai trị. Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, ra đời từ khát vọng giải phóng của toàn dân tộc. Ở Việt Nam, lợi ích của Đảng và lợi ích của quốc gia - dân tộc là một khối thống nhất hữu cơ, không thể tách rời, đã được khẳng định tuyệt đối tại Điều 65, Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”[6]. Điều luật tối cao này chính là tấm lá chắn pháp lý vững chắc nhất, khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang là không thể lay chuyển. Những kẻ cố tình rêu rao luận điệu “quân đội đứng ngoài chính trị”, phủ định bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là những phần tử phản động. Hành vi của chúng không chỉ đi ngược lại Hiến pháp, vi phạm pháp luật mà còn là sự chà đạp lên lịch sử vinh quang được viết bằng máu xương của bao thế hệ cha anh.
Thứ hai, “Chính trị” là nền tảng định hướng kỹ năng tác chiến, là bệ đỡ vững chắc để làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại
Sức sống mãnh liệt của nền tảng chính trị trong Quân đội ta không chỉ là những mệnh lệnh khô cứng từ trên xuống, mà đã thấm sâu vào nhận thức, trở thành bản chất kỷ luật tự giác của mỗi quân nhân qua việc học tập và rèn luyện. Ngay từ ngày đầu lập quân, Lời thề thứ tư đã ghi rõ trách nhiệm: Ra sức học tập tác chiến và chính trị....Điều này minh chứng cho một tư duy nhất quán: Rèn luyện chính trị chính là nền tảng cốt lõi, là điều kiện tiên quyết để định hướng và phát huy tối đa sức mạnh của kỹ năng tác chiến quân sự. Chính sự giác ngộ chính trị sâu sắc ấy đã tạo nên một thứ kỷ luật sắt nhưng hoàn toàn tự giác.
Sức sống của chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” từ khu rừng Trần Hưng Đạo đã vươn mình trở thành kim chỉ nam chiến lược, được Đảng ta kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng”[7]. Điều này cho thấy tầm vóc thời đại của chân lý “chính trị trọng hơn quân sự”. Trong mục tiêu xây dựng lực lượng vũ trang tiến lên “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, Đảng ta kiên quyết đặt thuộc tính “cách mạng”, sự “tuyệt đối trung thành” và “kiên định lý tưởng” làm tiền đề cốt lõi. Sự khẳng định này mang tính nguyên tắc: Sự vươn lên làm chủ vũ khí trang bị tối tân hay nghệ thuật tác chiến công nghệ cao phải luôn được dẫn dắt bởi một lập trường chính trị vững vàng. Quân đội càng tiến lên “hiện đại”, càng phải giữ vững bản chất “cách mạng”. Nếu thoát ly khỏi lòng trung thành với Đảng và Nhân dân, tiến trình hiện đại hóa tất yếu sẽ rơi vào cạm bẫy “kỹ trị hóa”, làm mất đi bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang. Do đó, Văn kiện Đại hội XIV chính là thông điệp đanh thép khẳng định: Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, “chính trị” mãi mãi là cái gốc, là linh hồn định hướng mọi sức mạnh quân sự, là bệ đỡ vững chắc nhất để quân đội đập tan mọi dã tâm “phi chính trị hóa” của kẻ thù.
Thứ ba, “Chính trị” là xây dựng thế trận “Chiến tranh nhân dân” và định hình chức năng “Đội quân công tác”.
Chỉ thị của Bác vạch rõ đường lối kiến tạo một hệ sinh thái vũ trang: Kết hợp giữa “tập trung lập một đội quân chủ lực đầu tiên” với “duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương”. Đồng thời Bác giao nhiệm vụ: “Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện...” [8]. Quân đội không chỉ nổ súng, mà còn mang sứ mệnh đi ươm mầm cơ sở cách mạng. Sứ mệnh ấy được cụ thể hóa thành kỷ luật thu phục nhân tâm tại Lời thề thứ chín: “Khi tiếp xúc với dân chúng ta sẽ làm đúng ba điều nên: kính trọng dân, cứu giúp dân, bảo vệ dân và ba điều răn: không dọa nạt dân, không lấy của dân, không quấy nhiễu dân”[9]. Đây là đỉnh cao của nền tảng chính trị, dùng kỷ luật thép và lòng nhân ái để thu phục lòng người, biến 34 con người thành sức mạnh của hàng chục triệu đồng bào. Chính vì khiếp sợ trước khối đại đoàn kết máu thịt ấy, các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để công kích, chia rẽ. Chúng tung ra các luận điệu rêu rao, đòi quân đội phải “rút về doanh trại để chuyên tâm tác chiến”, hòng xuyên tạc, vu khống việc bộ đội tham gia lao động sản xuất, làm công tác dân vận hay dầm mình trong bão lũ cứu giúp nhân dân là những hoạt động “sai chức năng”, “làm giảm tính chuyên nghiệp quân sự”. Thế nhưng, sự dung hợp khăng khít giữa tư tưởng chỉ đạo trong Chỉ thị của Bác và những Lời thề danh dự đã trở thành đòn giáng lý luận đanh thép bẻ gãy hoàn toàn sự ngụy biện này. Việc bám rễ, giúp đỡ, bảo vệ và dìu dắt nhân dân tuyệt đối không phải là sự “sai lệch”, mà đó chính là chức năng bẩm sinh, là thuộc tính bản chất và là mệnh lệnh chính trị tối cao của một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
2.2. Chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” hóa thành sức mạnh thực tiễn bách chiến bách thắng
Thực tiễn oanh liệt của cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua là minh chứng đanh thép bóp nghẹt mọi luận điệu thù địch. Từ khu rừng Trần Hưng Đạo, vươn qua các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và 40 năm đổi mới, chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” luôn là cội nguồn sức mạnh giúp Quân đội ta lập nên những kỳ tích vĩ đại, đồng thời nghiền nát hoàn toàn mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù.
Thứ nhất, bản lĩnh và lòng trung thành tuyệt đối của Quân đội Nhân dân Việt Nam là chiếc khiên đập tan mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội”
Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng không gian mạng để gieo rắc tư tưởng thực dụng, rêu rao rằng quân đội thời công nghệ cao chỉ cần vũ khí tốt, “súng hai vai, đạn đầy băng” và phải giữ thế “trung lập” với các thiết chế chính trị. Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh điều ngược lại: Bản lĩnh chính trị và lòng trung thành tuyệt đối mới là ưu thế cốt lõi, là thứ vũ khí chiến lược đặc hữu làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và kháng chiến vệ quốc vĩ đại, nếu chỉ cân đong bằng tư duy quân sự thuần túy về ưu thế vũ khí hay hậu cần, Việt Nam hoàn toàn bất lợi trước những cỗ máy chiến tranh khổng lồ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhưng nền tảng chính trị vững chắc đã rèn đúc nên lòng trung thành tuyệt đối với chân lý “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước”. Lòng trung thành mang tính lý tưởng ấy đã hóa thành những biểu tượng anh hùng bất tử: đó là Bế Văn Đàn nghiến răng lấy thân mình làm giá súng, là Phan Đình Giót vươn người lấp kín lỗ châu mai, là Tô Vĩnh Diện quên mình cứu pháo, đó là khí phách “nhằm thẳng quân thù mà bắn” của Nguyễn Viết Xuân, hay nụ cười hiên ngang, bất khuất trước họng súng quân thù của người con gái Đất Đỏ Võ Thị Sáu… Đứng trước mưa bom bão đạn, nếu chỉ là những đội quân đánh thuê mang danh “trung lập”, chúng tất yếu sẽ chọn cách tháo chạy để bảo toàn mạng sống. Nhưng vì được cấy ghép sự giác ngộ lý tưởng sâu sắc vào ngay trong huyết mạch, người chiến sĩ cách mạng Việt Nam luôn sẵn sàng lấy máu xương để bảo vệ mục tiêu chính trị của Đảng, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc.
Bước vào thời kỳ hội nhập, lòng trung thành tuyệt đối của Quân đội ta tiếp tục tỏa sáng rực rỡ trên mọi trận địa “không tiếng súng”. Đó là sự kiên cường bám biển, bám biên giới bảo vệ chủ quyền; là bản lĩnh kiên định lập trường của lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc; là tinh thần xả thân cứu dân trong tâm dịch, rốn lũ; và là sự sắc bén của Lực lượng 47 đi đầu đập tan mọi xuyên tạc trên không gian mạng,…Quân đội ta tạo thành một khối thống nhất hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi “viên đạn bọc đường” hay mầm mống “tự diễn biến”. Sự kiên định xả thân bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân và chế độ ấy là bản chất cao quý mà một quân đội “trung lập”, hành động theo lợi ích thực dụng của phương Tây tuyệt đối không bao giờ có được.
Thứ hai, đường lối chiến lược của Đảng là cội nguồn bẻ gãy mọi vũ khí tối tân, đập tan ảo tưởng “kỹ trị hóa quân sự”
Các thế lực thù địch thường rêu rao luận điệu “kỹ trị hóa quân sự”, ngụy biện rằng quân đội chuyên nghiệp chỉ cần tinh thông tác chiến, làm chủ vũ khí và phải “đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý đanh thép, đảo ngược hoàn toàn tư duy quân sự phương Tây: Súng đạn dẫu hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên mù quáng, vô dụng nếu thiếu đi một “bộ óc” chính trị chiến lược soi đường. Bộ óc ấy chính là sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Quán triệt sâu sắc tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” và bám sát mục tiêu giải phóng dân tộc, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân cùng các lực lượng vũ trang tiền thân dẫu vũ khí thô sơ, số lượng ít ỏi đã hóa thành lực lượng nòng cốt. Sự kết hợp tài tình giữa lực lượng vũ trang và bão táp đấu tranh chính trị của quần chúng đã làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Đây là minh chứng đầu tiên khẳng định: Khi bạo lực quân sự phục tùng tuyệt đối mục tiêu chính trị, nó sẽ tạo ra sức mạnh thần kỳ lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954): Đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quyết định lịch sử chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” không chỉ là một phép tính chiến thuật đơn thuần. Đó là một quyết sách mang tầm vóc chính trị tối cao của Bộ Chính trị và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhằm bảo toàn lực lượng cốt cán, thực hiện đúng đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế” để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975): Phải đối đầu với bộ máy chiến tranh khổng lồ của Lầu Năm Góc, Quân đội ta đã bóp nghẹt ưu thế vũ khí của địch bằng đường lối chính trị - quân sự độc đáo: Chiến tranh nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp chặt chẽ ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Chính tư duy chính trị vượt trội của Đảng đã bẻ gãy liên tiếp 4 chiến lược chiến tranh tối tân của đế quốc Mỹ, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Đứng trước tình thế hiểm nghèo ở hai đầu biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, bản lĩnh chính trị kiên định và quyết sách sáng suốt của Trung ương Đảng đã dẫn dắt lực lượng vũ trang đập tan mọi cuộc tiến công xâm lược, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ thiêng liêng.
Bước vào thời bình, trải qua 40 năm đổi mới dưới sự chèo lái của Đảng, Quân đội ta tiến mạnh lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại nhưng không một phút giây lơi lỏng trận địa tư tưởng, luôn giữ vững công tác đảng, công tác chính trị làm “linh hồn, mạch sống”.
Bề dày chiến công oanh liệt trải dài gần một thế kỷ qua là bản án đanh thép nhất bẻ gãy luận điệu đòi tách Quân đội khỏi Đảng. Một quân đội “phi đảng phái”, “phi chính trị” thực chất chỉ là một đội quân mất phương hướng, dễ dàng trở thành công cụ của sự hỗn loạn. Đối với Việt Nam, âm mưu tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội chính là thủ đoạn tước đi “bộ óc” chiến lược vĩ đại nhất, hòng biến một đội quân bách chiến bách thắng thành một lực lượng suy yếu, mất sức chiến đấu và tự tan rã.
Thứ ba, thực tiễn chứng minh: “Chính trị” bám rễ sâu vào “thế trận lòng dân”, trở thành phòng tuyến bất khả xâm phạm nghiền nát mưu đồ cô lập quân đội.
Luận điệu thâm độc khác của kẻ thù là quy chụp công tác dân vận, lao động sản xuất của quân đội là “sai chức năng”, đòi quân đội “rút về doanh trại”. Mục đích của chúng là cắt đứt mối liên hệ máu thịt quân - dân, đẩy lực lượng vũ trang vào thế cô lập. Nhưng thực tiễn hơn 80 năm qua chứng minh: “Thế trận lòng dân” được xây dựng bằng công tác chính trị chính là cội nguồn của mọi thắng lợi.
Từ lời thề thứ 9 năm 1944, bản chất “quân với dân như cá với nước” đã được định hình. Không có lòng dân che chở, sẽ không có chiến khu Việt Bắc, không có địa đạo Củ Chi hay tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Tại Điện Biên Phủ, chính “thế trận lòng dân” dưới ngọn cờ của Đảng đã huy động hơn 26 vạn dân công hỏa tuyến, hơn 2 vạn xe đạp thồ vượt đèo lội suối, đánh bại hệ thống hậu cần hiện đại của thực dân Pháp.
Hiện nay, chức năng “đội quân công tác, lao động sản xuất” càng phát huy sức mạnh toàn diện trên mọi địa bàn chiến lược. Không chỉ có lực lượng Bộ đội Biên phòng kiên cường bám rễ nơi phên dậu để củng cố hệ thống chính trị cơ sở và triệt phá tà đạo ly khai; mà các binh đoàn kinh tế - quốc phòng cũng ngày đêm bám bản, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sinh kế, vươn lên thoát nghèo và làm chủ cuộc sống. Cùng với đó, hình ảnh các anh bộ đội xông pha dầm mình cứu dân trong thiên tai, bão lũ, dịch bệnh,… là những minh chứng sinh động nhất. Sự bám rễ đa chiều này chính là nhiệm vụ chính trị ở tầng mức sâu sắc nhất nhằm củng cố "thế trận lòng dân", bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Điều đó chứng tỏ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hòa quyện máu thịt với Nhân dân, tạo thành phòng tuyến, bức tường thành vững trãi bất khả xâm phạm, đập tan mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù.
Như vậy, dù trong bất kỳ bối cảnh lịch sử nào, các thế lực thù địch cũng luôn sử dụng những thủ đoạn xảo quyệt, không ngừng “thay hình đổi dạng” các luận điệu chống phá hòng tước đoạt quyền lãnh đạo tối cao của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Thế nhưng, chính nhờ sự kiên định bám sát và phát huy chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” được Lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh từ dưới tán rừng thiêng năm xưa, Quân đội ta đã tự rèn đúc nên một “hệ miễn dịch” tư tưởng vững chắc, tạo thành sức mạnh vô địch bẻ gãy mọi dã tâm đen tối đó. Có thể khẳng định, dòng chảy thực tiễn oanh liệt của cách mạng Việt Nam từ Cương lĩnh năm 1930, kết tinh qua mốc son năm 1944 cho đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện nay là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống trường tồn của chân lý này. Mỗi chương sử, mỗi chiến công, mỗi giọt mồ hôi và máu đào của người lính Bộ đội Cụ Hồ đều là mỗi bản án đanh thép đập tan âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trong kỷ nguyên số, các thế lực thù địch sử dụng không gian mạng để phát tán những luận điệu xuyên tạc tinh vi, núp bóng "khoa học" và "dân chủ" nhằm tước bỏ quyền lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Thay vì công kích trực diện, chúng ráo riết triển khai âm mưu "phi chính trị hóa" quân đội qua các thủ đoạn phản động, phi khoa học sau đây:
Thứ nhất, thủ đoạn đánh tráo khái niệm về “sự trung thành” của quân đội hòng đối lập Đảng với quốc gia, dân tộc.
Thông qua các nền tảng mạng xã hội và hệ thống truyền thông thù địch hải ngoại (như VOA, RFA, Việt Tân…), chúng liên tục rêu rao luận điệu: Quân đội là của quốc gia, vũ khí trang bị được mua sắm bằng tiền thuế của dân, do đó quân đội chỉ cần trung thành với Tổ quốc và Nhân dân, phải giữ thế “phi đảng phái”. Chúng viện dẫn mô hình quân đội của một số nước tư bản – nơi quân đội tuyên thệ trung thành với Hiến pháp để làm “khuôn vàng thước ngọc” hòng ép Việt Nam rập khuôn. Thực chất, đây là một cái bẫy cực kỳ thâm độc nhằm đánh tráo khái niệm, bóp méo bản chất giai cấp của nhà nước và chia cắt khối đại đoàn kết thống nhất ở Việt Nam.
Ở một số nước tư bản, vỏ bọc “quân đội phi đảng phái” chỉ là màn kịch tinh vi che đậy bản chất công cụ bạo lực bảo vệ ách thống trị của giới tài phiệt, lực lượng này sẵn sàng đàn áp đẫm máu nhân dân lao động khi quyền lợi của giai cấp tư sản cầm quyền bị đe dọa. Ngược lại, tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng hoàn toàn đồng nhất với lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Do đó, đối với mỗi quân nhân cách mạng, lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và với Nhân dân là một chỉnh thể thiêng liêng, không tách rời. Việc rêu rao luận điệu đòi quân đội “chỉ trung thành với Tổ quốc, không cần trung thành với Đảng” chính là nhát dao hiểm độc hòng chặt đứt “bộ não” lãnh đạo, đẩy quân đội vào trạng thái mất phương hướng chính trị, dẫn đến tự suy yếu và tan rã từ bên trong.
Thứ hai, lợi dụng xu thế “hiện đại hóa quân đội” và Cách mạng công nghiệp 4.0 để hạ thấp vai trò của công tác đảng, công tác chính trị.
Một biến tướng vô cùng tinh vi và thâm độc khác của âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” hiện nay là luận điệu “kỹ trị hóa quân sự”. Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lập luận ngụy biện rằng: Trong bối cảnh chiến tranh công nghệ cao, sự lên ngôi của trí tuệ nhân tạo (AI), tác chiến không gian mạng và vũ khí thông minh (UAV)... sức mạnh quân đội được quyết định tuyệt đối bởi yếu tố kỹ thuật và năng lực tác chiến điện tử. Từ bẫy nhận thức đó, chúng rêu rao rằng công tác đảng, công tác chính trị, giáo dục lý luận hay học tập nghị quyết đã trở nên “lỗi thời”, “mất thời gian”, “cản trở” tính chuyên nghiệp của quân đội hiện đại. Thủ đoạn của chúng là cổ xúy lối sống thực dụng, sùng bái vũ khí, từ đó từng bước hạ bệ và tiến tới thủ tiêu hoàn toàn vai trò của tổ chức đảng và cơ quan chính trị trong lực lượng vũ trang.
Sự xảo trá của luận điệu này nằm ở chỗ, chúng cố tình lợi dụng chủ trương đúng đắn của Đảng ta về xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại để cài cắm mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội”. Chúng lờ đi một quy luật bất di bất dịch: Công tác đảng, công tác chính trị chính là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội Nhân dân Việt Nam; vũ khí dẫu hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế được yếu tố chính trị, tinh thần của người sử dụng. Trong chiến tranh công nghệ cao, mức độ khốc liệt, sức tàn phá và áp lực tâm lý là vô cùng khủng khiếp. Nếu thiếu đi sự rèn luyện, định hướng từ công tác đảng, công tác chính trị, người chiến sĩ sẽ đánh mất bản lĩnh kiên định, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, khi đó, những vũ khí tối tân có thể rơi vào tay kẻ thù hoặc quay ngược mũi giáo tàn phá chế độ.
Do đó, mưu đồ “kỹ trị hóa” hạ thấp công tác chính trị thực chất là thủ đoạn thâm độc nhằm cắt đứt cội nguồn sức mạnh, đánh sập hệ thống “miễn dịch” tư tưởng của lực lượng vũ trang cách mạng. Mục đích tối hậu của chúng là biến Quân đội ta thành một cỗ máy quân sự mù quáng, rỗng tuếch về lý tưởng, dễ dàng rơi vào bẫy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và bị đánh gục hoàn toàn từ bên trong.
Thứ ba, bôi nhọ chức năng “đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” hòng cô lập lực lượng vũ trang với Nhân dân.
Từ thực tiễn cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm định hình và đúc kết trọn vẹn các chức năng cốt lõi của lực lượng vũ trang. Người từng căn dặn: “…toàn quân phải đoàn kết phấn đấu, quyết tâm xây dựng quân đội ta thành một quân đội hùng mạnh, sẵn sàng chiến đấu, học tập giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi”[1]. Lời huấn thị sâu sắc này không chỉ là mệnh lệnh, mà còn là kim chỉ nam định rõ bản chất bẩm sinh, không thể tách rời của Quân đội Nhân dân Việt Nam: Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất. Sự thống nhất biện chứng giữa ba thành tố trên chính là cội nguồn tạo nên sức mạnh tổng hợp, giúp Quân đội vừa bảo vệ vững chắc nền độc lập, vừa bám rễ sâu vào quần chúng để kiến tạo “thế trận lòng dân”.
Tuy nhiên, các thế lực phản động liên tục mượn cớ xây dựng “quân đội chuyên nghiệp” để công kích kịch liệt vào chức năng công tác và lao động sản xuất của Quân đội ta. Các thế lực thù địch thường cắt ghép, bóp méo những vi phạm kỷ luật đơn lẻ của một vài cá nhân để thổi phồng thành “bản chất”, vu cáo quân đội làm kinh tế là “tranh giành lợi ích” hay “lũng đoạn nền kinh tế”. Từ đó, chúng kích động, đòi quân đội phải “rút về doanh trại”, nhằm tách rời lực lượng vũ trang khỏi đời sống kinh tế - xã hội. Thực chất, đây là thủ đoạn thâm độc hòng cắt đứt mối liên hệ máu thịt giữa Quân đội với Nhân dân, từng bước đẩy Quân đội vào thế cô lập để dễ bề vô hiệu hóa. Bởi lẽ, việc Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn chiến lược, biên giới, hải đảo không chỉ góp phần tự chủ của cải, giảm gánh nặng ngân sách, mà quan trọng hơn, là phương thức cốt lõi để củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc từ sớm, từ xa.
Có thể thấy rõ đích đến cuối cùng của âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong; làm cho cán bộ, chiến sĩ “nhạt Đảng, khô Đoàn”, tiến tới vô hiệu hóa hoàn toàn công cụ bạo lực sắc bén của chế độ. Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 chính là minh chứng điển hình nhất. Khi Đảng Cộng sản Liên Xô mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối, chấp nhận đa nguyên chính trị và thủ tiêu nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, lực lượng vũ trang Liên Xô lập tức rơi vào cạm bẫy “trung lập hóa”, đứng im bất lực nhìn chế độ xã hội chủ nghĩa tan rã. Bài học lịch sử xót xa này vĩnh viễn là một hồi chuông cảnh tỉnh, khẳng định một chân lý: Buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội chính là tự tước đi "lá chắn" bảo vệ chế độ, mở đường cho sự sụp đổ của toàn bộ sự nghiệp cách mạng.
Như vậy, nhận diện một cách đầy đủ, tường tận và lột trần mọi lớp vỏ ngụy trang của mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội” là yêu cầu cấp thiết. Đây chính là cơ sở cốt lõi để chúng ta mài sắc tư duy lý luận, triển khai các đòn phản bác đanh thép để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
2. Sức sống trường tồn của tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” đập tan mọi luận điệu “phi chính trị hóa quân đội”
2.1. Từ tính tất yếu khách quan đến sự sáng tạo độc đáo trong Chỉ thị thành lập và 10 Lời thề danh dự
Để vạch trần dã tâm “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù, cần khẳng định rõ: Nền tảng chính trị của Quân đội ta hoàn toàn không phải là sự gán ghép chủ quan, mà là một tất yếu khách quan, được kết tinh từ nguyên lý mácxít và quy luật vận động sáng tạo của lịch sử cách mạng Việt Nam.
Về tính tất yếu khách quan: Xét trên phương diện lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ quân đội bản chất là công cụ bạo lực của một giai cấp, tuyệt đối không tồn tại một đội quân “phi giai cấp” hay “đứng ngoài chính trị”. V.I. Lênin từng đanh thép nhấn mạnh: “... những câu nói của bọn tôi tớ của nền chuyên chế về tính trung lập của quân đội, về sự cần thiết phải giữ cho quân đội đứng ngoài chính trị v.v. là giả dối, rằng những lời nói đó không thể mong được binh lính đồng tình một chút nào”.[2] Xét trên phương diện thực tiễn, sự thất bại của các phong trào yêu nước trước năm 1930 đã để lại bài học xương máu: Bạo lực vũ trang nếu thiếu vắng đường lối chính trị soi đường và một tổ chức tiên phong lãnh đạo tất yếu sẽ đi vào ngõ cụt. Nhận thức sâu sắc quy luật đó, ngay từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (năm 1930), Đảng ta đã xác lập quyền lãnh đạo đối với lực lượng vũ trang. Do đó, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quân đội không chỉ là nguyên tắc lý luận, mà chính là sự lựa chọn tất yếu, duy nhất đúng của lịch sử dân tộc.
Về sự sáng tạo độc đáo chân lý “chính trị trọng hơn quân sự”:
Nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cấp thiết của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, trong bản Chỉ thị thành lập đội quân chủ lực đầu tiên, Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định:“Tên Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự... Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”[3]. Trong nhãn quan thiên tài của Bác, “chính trị” không đơn thuần là nhiệm vụ tuyên truyền ban đầu mà bao hàm những giá trị về bản chất, chức năng và lý tưởng. Chân lý ấy không chỉ nằm trên trang giấy của bản Chỉ thị, mà lập tức hóa thân thành kỷ luật thép qua 10 Lời thề danh dự được vang lên dưới tán rừng Trần Hưng Đạo ngày 22/12/1944. Chính sự dung hợp biện chứng giữa tư tưởng chỉ đạo trong bản Chỉ thị và những lời thề sắt son này đã bước đầu kiến tạo nên các trụ cột lý luận đanh thép của chân lý “chính trị trọng hơn quân sự”:
Thứ nhất, “Chính trị” là sự khẳng định quyền lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không tự nhiên sinh ra, mà là sản phẩm tất yếu từ đường lối chính trị, quân sự của Đảng. Trong Chỉ thị thành lập, Lãnh tụ Hồ Chí Minh quy định rõ: “Muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích... những cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất"[4]. Cụm từ “theo chỉ thị mới của Đoàn thể” (tức Đảng Cộng sản Đông Dương) mang ý nghĩa nguyên tắc cực kỳ sâu sắc. Nó là lời tuyên ngôn đanh thép khẳng định cội nguồn ra đời và quyền lãnh đạo tối cao của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Quân đội ta được tổ chức ra trước hết là để phục tùng và hiện thực hóa đường lối, mục tiêu chính trị của Đảng. Việc tổ chức Đảng đóng vai trò chủ thể trực tiếp “chọn lọc” những hạt nhân ưu tú nhất đã định hình “tính Đảng”, cấy lập trường giai cấp kiên định vào ngay huyết mạch của Quân đội từ thuở phôi thai.
Lập trường giai cấp và sự giác ngộ chính trị ấy lập tức được chuyển hóa thành mục tiêu chiến đấu tối cao, vang lên trong Lời thề danh dự đầu tiên: “Hy sinh tất cả vì Tổ quốc Việt Nam, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng... làm cho nước Việt Nam trở thành một nước dân chủ, độc lập, tự do”[5]. Khác hoàn toàn với quân đội của các nhà nước bóc lột được lập ra để bảo vệ quyền lợi của giới tinh hoa cai trị. Quân đội nhân dân Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, ra đời từ khát vọng giải phóng của toàn dân tộc. Ở Việt Nam, lợi ích của Đảng và lợi ích của quốc gia - dân tộc là một khối thống nhất hữu cơ, không thể tách rời, đã được khẳng định tuyệt đối tại Điều 65, Hiến pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”[6]. Điều luật tối cao này chính là tấm lá chắn pháp lý vững chắc nhất, khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với lực lượng vũ trang là không thể lay chuyển. Những kẻ cố tình rêu rao luận điệu “quân đội đứng ngoài chính trị”, phủ định bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là những phần tử phản động. Hành vi của chúng không chỉ đi ngược lại Hiến pháp, vi phạm pháp luật mà còn là sự chà đạp lên lịch sử vinh quang được viết bằng máu xương của bao thế hệ cha anh.
Thứ hai, “Chính trị” là nền tảng định hướng kỹ năng tác chiến, là bệ đỡ vững chắc để làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại
Sức sống mãnh liệt của nền tảng chính trị trong Quân đội ta không chỉ là những mệnh lệnh khô cứng từ trên xuống, mà đã thấm sâu vào nhận thức, trở thành bản chất kỷ luật tự giác của mỗi quân nhân qua việc học tập và rèn luyện. Ngay từ ngày đầu lập quân, Lời thề thứ tư đã ghi rõ trách nhiệm: Ra sức học tập tác chiến và chính trị....Điều này minh chứng cho một tư duy nhất quán: Rèn luyện chính trị chính là nền tảng cốt lõi, là điều kiện tiên quyết để định hướng và phát huy tối đa sức mạnh của kỹ năng tác chiến quân sự. Chính sự giác ngộ chính trị sâu sắc ấy đã tạo nên một thứ kỷ luật sắt nhưng hoàn toàn tự giác.
Sức sống của chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” từ khu rừng Trần Hưng Đạo đã vươn mình trở thành kim chỉ nam chiến lược, được Đảng ta kế thừa và phát triển lên một tầm cao mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng”[7]. Điều này cho thấy tầm vóc thời đại của chân lý “chính trị trọng hơn quân sự”. Trong mục tiêu xây dựng lực lượng vũ trang tiến lên “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, Đảng ta kiên quyết đặt thuộc tính “cách mạng”, sự “tuyệt đối trung thành” và “kiên định lý tưởng” làm tiền đề cốt lõi. Sự khẳng định này mang tính nguyên tắc: Sự vươn lên làm chủ vũ khí trang bị tối tân hay nghệ thuật tác chiến công nghệ cao phải luôn được dẫn dắt bởi một lập trường chính trị vững vàng. Quân đội càng tiến lên “hiện đại”, càng phải giữ vững bản chất “cách mạng”. Nếu thoát ly khỏi lòng trung thành với Đảng và Nhân dân, tiến trình hiện đại hóa tất yếu sẽ rơi vào cạm bẫy “kỹ trị hóa”, làm mất đi bản chất giai cấp công nhân của lực lượng vũ trang. Do đó, Văn kiện Đại hội XIV chính là thông điệp đanh thép khẳng định: Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, “chính trị” mãi mãi là cái gốc, là linh hồn định hướng mọi sức mạnh quân sự, là bệ đỡ vững chắc nhất để quân đội đập tan mọi dã tâm “phi chính trị hóa” của kẻ thù.
Thứ ba, “Chính trị” là xây dựng thế trận “Chiến tranh nhân dân” và định hình chức năng “Đội quân công tác”.
Chỉ thị của Bác vạch rõ đường lối kiến tạo một hệ sinh thái vũ trang: Kết hợp giữa “tập trung lập một đội quân chủ lực đầu tiên” với “duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương”. Đồng thời Bác giao nhiệm vụ: “Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện...” [8]. Quân đội không chỉ nổ súng, mà còn mang sứ mệnh đi ươm mầm cơ sở cách mạng. Sứ mệnh ấy được cụ thể hóa thành kỷ luật thu phục nhân tâm tại Lời thề thứ chín: “Khi tiếp xúc với dân chúng ta sẽ làm đúng ba điều nên: kính trọng dân, cứu giúp dân, bảo vệ dân và ba điều răn: không dọa nạt dân, không lấy của dân, không quấy nhiễu dân”[9]. Đây là đỉnh cao của nền tảng chính trị, dùng kỷ luật thép và lòng nhân ái để thu phục lòng người, biến 34 con người thành sức mạnh của hàng chục triệu đồng bào. Chính vì khiếp sợ trước khối đại đoàn kết máu thịt ấy, các thế lực thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn để công kích, chia rẽ. Chúng tung ra các luận điệu rêu rao, đòi quân đội phải “rút về doanh trại để chuyên tâm tác chiến”, hòng xuyên tạc, vu khống việc bộ đội tham gia lao động sản xuất, làm công tác dân vận hay dầm mình trong bão lũ cứu giúp nhân dân là những hoạt động “sai chức năng”, “làm giảm tính chuyên nghiệp quân sự”. Thế nhưng, sự dung hợp khăng khít giữa tư tưởng chỉ đạo trong Chỉ thị của Bác và những Lời thề danh dự đã trở thành đòn giáng lý luận đanh thép bẻ gãy hoàn toàn sự ngụy biện này. Việc bám rễ, giúp đỡ, bảo vệ và dìu dắt nhân dân tuyệt đối không phải là sự “sai lệch”, mà đó chính là chức năng bẩm sinh, là thuộc tính bản chất và là mệnh lệnh chính trị tối cao của một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
2.2. Chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” hóa thành sức mạnh thực tiễn bách chiến bách thắng
Thực tiễn oanh liệt của cách mạng Việt Nam gần một thế kỷ qua là minh chứng đanh thép bóp nghẹt mọi luận điệu thù địch. Từ khu rừng Trần Hưng Đạo, vươn qua các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và 40 năm đổi mới, chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” luôn là cội nguồn sức mạnh giúp Quân đội ta lập nên những kỳ tích vĩ đại, đồng thời nghiền nát hoàn toàn mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù.
Thứ nhất, bản lĩnh và lòng trung thành tuyệt đối của Quân đội Nhân dân Việt Nam là chiếc khiên đập tan mưu đồ “phi chính trị hóa quân đội”
Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng không gian mạng để gieo rắc tư tưởng thực dụng, rêu rao rằng quân đội thời công nghệ cao chỉ cần vũ khí tốt, “súng hai vai, đạn đầy băng” và phải giữ thế “trung lập” với các thiết chế chính trị. Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh điều ngược lại: Bản lĩnh chính trị và lòng trung thành tuyệt đối mới là ưu thế cốt lõi, là thứ vũ khí chiến lược đặc hữu làm nên sức mạnh bách chiến bách thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và kháng chiến vệ quốc vĩ đại, nếu chỉ cân đong bằng tư duy quân sự thuần túy về ưu thế vũ khí hay hậu cần, Việt Nam hoàn toàn bất lợi trước những cỗ máy chiến tranh khổng lồ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nhưng nền tảng chính trị vững chắc đã rèn đúc nên lòng trung thành tuyệt đối với chân lý “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước”. Lòng trung thành mang tính lý tưởng ấy đã hóa thành những biểu tượng anh hùng bất tử: đó là Bế Văn Đàn nghiến răng lấy thân mình làm giá súng, là Phan Đình Giót vươn người lấp kín lỗ châu mai, là Tô Vĩnh Diện quên mình cứu pháo, đó là khí phách “nhằm thẳng quân thù mà bắn” của Nguyễn Viết Xuân, hay nụ cười hiên ngang, bất khuất trước họng súng quân thù của người con gái Đất Đỏ Võ Thị Sáu… Đứng trước mưa bom bão đạn, nếu chỉ là những đội quân đánh thuê mang danh “trung lập”, chúng tất yếu sẽ chọn cách tháo chạy để bảo toàn mạng sống. Nhưng vì được cấy ghép sự giác ngộ lý tưởng sâu sắc vào ngay trong huyết mạch, người chiến sĩ cách mạng Việt Nam luôn sẵn sàng lấy máu xương để bảo vệ mục tiêu chính trị của Đảng, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc.
Bước vào thời kỳ hội nhập, lòng trung thành tuyệt đối của Quân đội ta tiếp tục tỏa sáng rực rỡ trên mọi trận địa “không tiếng súng”. Đó là sự kiên cường bám biển, bám biên giới bảo vệ chủ quyền; là bản lĩnh kiên định lập trường của lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc; là tinh thần xả thân cứu dân trong tâm dịch, rốn lũ; và là sự sắc bén của Lực lượng 47 đi đầu đập tan mọi xuyên tạc trên không gian mạng,…Quân đội ta tạo thành một khối thống nhất hoàn toàn miễn nhiễm trước mọi “viên đạn bọc đường” hay mầm mống “tự diễn biến”. Sự kiên định xả thân bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân và chế độ ấy là bản chất cao quý mà một quân đội “trung lập”, hành động theo lợi ích thực dụng của phương Tây tuyệt đối không bao giờ có được.
Thứ hai, đường lối chiến lược của Đảng là cội nguồn bẻ gãy mọi vũ khí tối tân, đập tan ảo tưởng “kỹ trị hóa quân sự”
Các thế lực thù địch thường rêu rao luận điệu “kỹ trị hóa quân sự”, ngụy biện rằng quân đội chuyên nghiệp chỉ cần tinh thông tác chiến, làm chủ vũ khí và phải “đứng ngoài chính trị”. Tuy nhiên, thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam đã chứng minh một chân lý đanh thép, đảo ngược hoàn toàn tư duy quân sự phương Tây: Súng đạn dẫu hiện đại đến đâu cũng sẽ trở nên mù quáng, vô dụng nếu thiếu đi một “bộ óc” chính trị chiến lược soi đường. Bộ óc ấy chính là sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945: Quán triệt sâu sắc tư tưởng “chính trị trọng hơn quân sự” và bám sát mục tiêu giải phóng dân tộc, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân cùng các lực lượng vũ trang tiền thân dẫu vũ khí thô sơ, số lượng ít ỏi đã hóa thành lực lượng nòng cốt. Sự kết hợp tài tình giữa lực lượng vũ trang và bão táp đấu tranh chính trị của quần chúng đã làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước. Đây là minh chứng đầu tiên khẳng định: Khi bạo lực quân sự phục tùng tuyệt đối mục tiêu chính trị, nó sẽ tạo ra sức mạnh thần kỳ lật đổ ách thống trị của thực dân, phong kiến.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954): Đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quyết định lịch sử chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” không chỉ là một phép tính chiến thuật đơn thuần. Đó là một quyết sách mang tầm vóc chính trị tối cao của Bộ Chính trị và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhằm bảo toàn lực lượng cốt cán, thực hiện đúng đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế” để đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975): Phải đối đầu với bộ máy chiến tranh khổng lồ của Lầu Năm Góc, Quân đội ta đã bóp nghẹt ưu thế vũ khí của địch bằng đường lối chính trị - quân sự độc đáo: Chiến tranh nhân dân, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp chặt chẽ ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Chính tư duy chính trị vượt trội của Đảng đã bẻ gãy liên tiếp 4 chiến lược chiến tranh tối tân của đế quốc Mỹ, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc: Đứng trước tình thế hiểm nghèo ở hai đầu biên giới phía Bắc và phía Tây Nam, bản lĩnh chính trị kiên định và quyết sách sáng suốt của Trung ương Đảng đã dẫn dắt lực lượng vũ trang đập tan mọi cuộc tiến công xâm lược, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ thiêng liêng.
Bước vào thời bình, trải qua 40 năm đổi mới dưới sự chèo lái của Đảng, Quân đội ta tiến mạnh lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại nhưng không một phút giây lơi lỏng trận địa tư tưởng, luôn giữ vững công tác đảng, công tác chính trị làm “linh hồn, mạch sống”.
Bề dày chiến công oanh liệt trải dài gần một thế kỷ qua là bản án đanh thép nhất bẻ gãy luận điệu đòi tách Quân đội khỏi Đảng. Một quân đội “phi đảng phái”, “phi chính trị” thực chất chỉ là một đội quân mất phương hướng, dễ dàng trở thành công cụ của sự hỗn loạn. Đối với Việt Nam, âm mưu tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội chính là thủ đoạn tước đi “bộ óc” chiến lược vĩ đại nhất, hòng biến một đội quân bách chiến bách thắng thành một lực lượng suy yếu, mất sức chiến đấu và tự tan rã.
Thứ ba, thực tiễn chứng minh: “Chính trị” bám rễ sâu vào “thế trận lòng dân”, trở thành phòng tuyến bất khả xâm phạm nghiền nát mưu đồ cô lập quân đội.
Luận điệu thâm độc khác của kẻ thù là quy chụp công tác dân vận, lao động sản xuất của quân đội là “sai chức năng”, đòi quân đội “rút về doanh trại”. Mục đích của chúng là cắt đứt mối liên hệ máu thịt quân - dân, đẩy lực lượng vũ trang vào thế cô lập. Nhưng thực tiễn hơn 80 năm qua chứng minh: “Thế trận lòng dân” được xây dựng bằng công tác chính trị chính là cội nguồn của mọi thắng lợi.
Từ lời thề thứ 9 năm 1944, bản chất “quân với dân như cá với nước” đã được định hình. Không có lòng dân che chở, sẽ không có chiến khu Việt Bắc, không có địa đạo Củ Chi hay tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Tại Điện Biên Phủ, chính “thế trận lòng dân” dưới ngọn cờ của Đảng đã huy động hơn 26 vạn dân công hỏa tuyến, hơn 2 vạn xe đạp thồ vượt đèo lội suối, đánh bại hệ thống hậu cần hiện đại của thực dân Pháp.
Hiện nay, chức năng “đội quân công tác, lao động sản xuất” càng phát huy sức mạnh toàn diện trên mọi địa bàn chiến lược. Không chỉ có lực lượng Bộ đội Biên phòng kiên cường bám rễ nơi phên dậu để củng cố hệ thống chính trị cơ sở và triệt phá tà đạo ly khai; mà các binh đoàn kinh tế - quốc phòng cũng ngày đêm bám bản, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sinh kế, vươn lên thoát nghèo và làm chủ cuộc sống. Cùng với đó, hình ảnh các anh bộ đội xông pha dầm mình cứu dân trong thiên tai, bão lũ, dịch bệnh,… là những minh chứng sinh động nhất. Sự bám rễ đa chiều này chính là nhiệm vụ chính trị ở tầng mức sâu sắc nhất nhằm củng cố "thế trận lòng dân", bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Điều đó chứng tỏ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hòa quyện máu thịt với Nhân dân, tạo thành phòng tuyến, bức tường thành vững trãi bất khả xâm phạm, đập tan mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù.
Như vậy, dù trong bất kỳ bối cảnh lịch sử nào, các thế lực thù địch cũng luôn sử dụng những thủ đoạn xảo quyệt, không ngừng “thay hình đổi dạng” các luận điệu chống phá hòng tước đoạt quyền lãnh đạo tối cao của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Thế nhưng, chính nhờ sự kiên định bám sát và phát huy chân lý “chính trị trọng hơn quân sự” được Lãnh tụ Hồ Chí Minh khai sinh từ dưới tán rừng thiêng năm xưa, Quân đội ta đã tự rèn đúc nên một “hệ miễn dịch” tư tưởng vững chắc, tạo thành sức mạnh vô địch bẻ gãy mọi dã tâm đen tối đó. Có thể khẳng định, dòng chảy thực tiễn oanh liệt của cách mạng Việt Nam từ Cương lĩnh năm 1930, kết tinh qua mốc son năm 1944 cho đến kỷ nguyên vươn mình của dân tộc hiện nay là minh chứng hùng hồn nhất cho sức sống trường tồn của chân lý này. Mỗi chương sử, mỗi chiến công, mỗi giọt mồ hôi và máu đào của người lính Bộ đội Cụ Hồ đều là mỗi bản án đanh thép đập tan âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Tập 11, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Sổ tay công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024), Sổ tay công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.
- V.I.Lênin (2005), Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2004), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội.
- Văn phòng Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất số 52/VBHN-VPQH: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, truy cập tại: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Van-ban-hop-nhat-52-VBHN-VPQH-2025-Hien-phap-nuoc-Cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-Viet-Nam-665872.aspx (truy cập ngày 01/06/2026).
ThS. Đàm Thị Thảo
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng
Tác phẩm đạt giải Khuyến khích tại Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tỉnh Cao Bằng năm 2026
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng
Tác phẩm đạt giải Khuyến khích tại Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tỉnh Cao Bằng năm 2026
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, Tập 11, tr. 367
[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.136.
[3] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Nxb Quân Đội Nhân dân, H.2004, tr.54, 55.
[4] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sđd, tr.55.
[5] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sđd, tr.66.
[6] https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Van-ban-hop-nhat-52-VBHN-VPQH-2025-Hien-phap-nuoc-Cong-hoa-xa-hoi-chu-nghia-Viet-Nam-665872.aspx
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội 2026, Tập 1, tr. 115
[8] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sđd, tr.55.
[9] Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Sđd, tr.66.