
- Bài viết nghiên cứu, trao đổi

CAO BẰNG CHÚ TRỌNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC
Thứ tư - 09/04/2025 14:58
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng việc bảo tồn si sản văn hóa của dân tộc. Ngay sau ngày độc lập, ngày (23/11/1945) Người đã ký Sắc lệnh 65/SL về việc “ấn định nhiệm vụ Đông phương Bác Cổ học viện” có nhiệm vụ “bảo tồn tất cả các cổ tích trong toàn cõi Việt Nam” (khái niệm “cổ tích” trong Sắc lệnh ngày nay được gọi là di sản văn hóa, gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể). Đây chính là sắc lệnh đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Tiếp thu tư tưởng của Người, trong gần 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta đã có sự phát triển trong nhận thức lý luận về văn hóa, trong đó có bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xác định bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tại Đại hội XIII của Đảng cũng xác định yêu cầu “Có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người, phát triển kinh tế - xã hội”[1].
Tiếp thu những chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng đã có nhiều hoạt động và giải pháp tích cực để khơi dậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh và đạt được những kết quả quan trọng. Tỉnh uỷ đã ban hành và chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả: Chương trình hành động số 51-CTr/TU, ngày 07/10/2014 của Tỉnh Ủy Cao Bằng về thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Công văn 2503-CV/TU ngày 13/8/2020 của Tỉnh uỷ Cao Bằng về triển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TWngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW; Chỉ thị số 36-CT/TU, 01/4/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cao Bằng về bảo tồn và phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Cao Bằng; Chương trình số 10-CTr/TU, ngày 29/4/2016 của Tỉnh uỷ Cao Bằng về phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020 (trong đó đã chú trọng việc đầu tư, bảo vệ, tôn tạo di tích, danh lam thắng cảnh; bảo tồn và phát triển các lễ hội, các hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề truyền thống... để phục vụ phát triển du lịch); chỉ đạo thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” (ban hành kèm theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg, ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ),... Đặc biệt, Tỉnh uỷ đã ban hành và chỉ đạo quyết liệt việc triển khai thực hiện Đề án số 19-ĐA/TU, ngày 13/8/2019 về “Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống trên quê hương cách mạng Cao Bằng giai đoạn 2019 - 2025”. Trong đó, chú trọng đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân, của cả hệ thống chính trị trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa của mảnh đất và con người Cao Bằng.
Thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cụ thể bằng nhiều hoạt động như thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về sưu tầm, nghiên cứu giá trị văn hóa, văn học - nghệ thuật dân ca của dân tộc. Đề tài “Nghiên cứu, phục dựng đám cưới dân tộc Dao đỏ tỉnh Cao Bằng”; “Khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể lễ Thuổn Puôn của người Sán Chỉ ở Cao Bằng”; “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị dân ca dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao tỉnh Cao Bằng”; “Nghi lễ đám cưới của người Lô Lô trên địa bàn tỉnh Cao Bằng”; “Nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa người Lô Lô Đen tỉnh Cao Bằng”... Kết quả đã sưu tầm được 16.968 đơn vị hiện vật; hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chỉ ...
Để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc các dân tộc tỉnh Cao Bằng, các đơn vị, địa phương trong tỉnh đã tổ chức các Hội thi hát dân ca - trình diễn trang phục dân tộc, các hội diễn, liên hoan và các hoạt động văn hoá dân gian truyền thống các dân tộc như: Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông, Chợ tình “Phong Lưu” huyện Bảo Lạc, chọi bò Xuân, lễ hội “lồng tồng” đầu xuân tại các làng bản,...; tổ chức các môn thi đấu thể thao truyền thống như: Kéo co, tung còn, bắn nỏ, đẩy gậy... từ các hoạt động văn hóa này đã đem lại quyền thụ hưởng về văn hóa cho bà con nhân dân. Chú trọng phục dựng lễ hội dân gian truyền thống; bảo tồn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc, nhất là trong thế hệ trẻ; nâng cấp các thiết chế về văn hóa, thể thao; thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số và tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa truyền thống nhằm tôn vinh, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời quảng bá hình ảnh quê hương và con người Cao Bằng đến bạn bè, du khách trong nước và quốc tế.
Tính đến năm 2024, toàn tỉnh có 271 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó có 102 di tích được xếp hạng các cấp; có 03 di tích quốc gia đặc biệt; 26 di tích xếp hạng quốc gia; 73 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Trong đó, Lễ hội Tranh đầu pháo (thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa), Nghề rèn truyền thống xã Phúc Sen của người Nùng An (huyện Quảng Hòa) được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (trong đó có Cao Bằng) đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Công viên Địa chất non nước Cao Bằng được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu UNESCO; 02 bảo vật quốc gia: đôi chuông chùa Viên Minh (Đà Quận) và bia Ma nhai Ngự chế nằm trên núi Phja Tém, xã Hồng Việt (Hòa An)[2].
Tiếp thu những chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và Nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng đã có nhiều hoạt động và giải pháp tích cực để khơi dậy, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh và đạt được những kết quả quan trọng. Tỉnh uỷ đã ban hành và chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả: Chương trình hành động số 51-CTr/TU, ngày 07/10/2014 của Tỉnh Ủy Cao Bằng về thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Công văn 2503-CV/TU ngày 13/8/2020 của Tỉnh uỷ Cao Bằng về triển khai thực hiện Kết luận số 76-KL/TWngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW; Chỉ thị số 36-CT/TU, 01/4/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cao Bằng về bảo tồn và phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Cao Bằng; Chương trình số 10-CTr/TU, ngày 29/4/2016 của Tỉnh uỷ Cao Bằng về phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020 (trong đó đã chú trọng việc đầu tư, bảo vệ, tôn tạo di tích, danh lam thắng cảnh; bảo tồn và phát triển các lễ hội, các hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề truyền thống... để phục vụ phát triển du lịch); chỉ đạo thực hiện Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” (ban hành kèm theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg, ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ),... Đặc biệt, Tỉnh uỷ đã ban hành và chỉ đạo quyết liệt việc triển khai thực hiện Đề án số 19-ĐA/TU, ngày 13/8/2019 về “Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống trên quê hương cách mạng Cao Bằng giai đoạn 2019 - 2025”. Trong đó, chú trọng đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân, của cả hệ thống chính trị trong việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử, văn hóa của mảnh đất và con người Cao Bằng.
Thực hiện công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng cụ thể bằng nhiều hoạt động như thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học về sưu tầm, nghiên cứu giá trị văn hóa, văn học - nghệ thuật dân ca của dân tộc. Đề tài “Nghiên cứu, phục dựng đám cưới dân tộc Dao đỏ tỉnh Cao Bằng”; “Khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể lễ Thuổn Puôn của người Sán Chỉ ở Cao Bằng”; “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị dân ca dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao tỉnh Cao Bằng”; “Nghi lễ đám cưới của người Lô Lô trên địa bàn tỉnh Cao Bằng”; “Nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa người Lô Lô Đen tỉnh Cao Bằng”... Kết quả đã sưu tầm được 16.968 đơn vị hiện vật; hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc: Tày, Nùng, Mông, Dao, Lô Lô, Sán Chỉ ...
Để giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc các dân tộc tỉnh Cao Bằng, các đơn vị, địa phương trong tỉnh đã tổ chức các Hội thi hát dân ca - trình diễn trang phục dân tộc, các hội diễn, liên hoan và các hoạt động văn hoá dân gian truyền thống các dân tộc như: Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông, Chợ tình “Phong Lưu” huyện Bảo Lạc, chọi bò Xuân, lễ hội “lồng tồng” đầu xuân tại các làng bản,...; tổ chức các môn thi đấu thể thao truyền thống như: Kéo co, tung còn, bắn nỏ, đẩy gậy... từ các hoạt động văn hóa này đã đem lại quyền thụ hưởng về văn hóa cho bà con nhân dân. Chú trọng phục dựng lễ hội dân gian truyền thống; bảo tồn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc, nhất là trong thế hệ trẻ; nâng cấp các thiết chế về văn hóa, thể thao; thường xuyên quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số và tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa truyền thống nhằm tôn vinh, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời quảng bá hình ảnh quê hương và con người Cao Bằng đến bạn bè, du khách trong nước và quốc tế.
Tính đến năm 2024, toàn tỉnh có 271 di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó có 102 di tích được xếp hạng các cấp; có 03 di tích quốc gia đặc biệt; 26 di tích xếp hạng quốc gia; 73 di tích xếp hạng cấp tỉnh. Trong đó, Lễ hội Tranh đầu pháo (thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa), Nghề rèn truyền thống xã Phúc Sen của người Nùng An (huyện Quảng Hòa) được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; Di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam (trong đó có Cao Bằng) đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Công viên Địa chất non nước Cao Bằng được công nhận là Công viên địa chất toàn cầu UNESCO; 02 bảo vật quốc gia: đôi chuông chùa Viên Minh (Đà Quận) và bia Ma nhai Ngự chế nằm trên núi Phja Tém, xã Hồng Việt (Hòa An)[2].

Bia Ma nhai Ngự chế trên vách núi Phja Tém tại xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã góp phần quan trọng trong thay đổi tư duy, nhận thức, dậy niềm tự hào và trách nhiệm của mỗi người dân đối với quê hương, đất nước. Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh - quốc phòng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh, tạo ra bước chuyển biến mới trong phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2019 - 2025, xây dựng Cao Bằng trở thành tỉnh phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn hiện nay.
Thực tế hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Cao Bằng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: Công tác quản lý quy hoạch, bảo tồn các di sản văn hóa, cảnh quan du lịch còn nhiều bất cập; việc đầu tư, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc còn ít, dàn trải; nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền, người dân đối với công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc thiểu số còn hạn chế; việc phát huy giá trị của di sản, trong đó có việc cưới, việc tang, lễ hội có biểu hiện lệch lạc mai một các giá trị truyền thống. Nguyên nhân của hạn chế trên là do: Một số cấp uỷ đảng, chính quyền chưa nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc thực hiện công tác bảo tồn các giá trị văn hoá của các dân tộc thiểu số. Công tác quản lý nhà nước về giá trị văn hoá có mặt lúng túng. Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác văn hoá, thể dục, thể thao và du lịch ở các huyện, thành và cơ sở còn thiếu và yếu. Cao Bằng là tỉnh nghèo, huy động nguồn lực để thực hiện công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số còn hạn chế.
Để tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025; Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 01/4/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về bảo tồn và phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Cao Bằng.
Hai là, đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Quan tâm khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số có dân số ít người; bảo tồn các lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc tộc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và thu hút du lịch. Xây dựng và phát triển đa dạng các loại hình sinh hoạt, câu lạc bộ Hát then - Đàn tính tại các xã, phường, thị trấn; đưa Hát then - Đàn tính vào trong chương trình giảng dạy ở một số trường học.
Ba là, có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người mới, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa, đặc biệt là chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Bốn là, ưu tiên đầu tư, huy động các nguồn lực cho công tác xây dựng, bảo tồn văn hóa, như xây dựng các thiết chế văn hoá, các điểm vui chơi, giải trí phục vụ cộng đồng. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa các hoạt động văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững; coi trọng bảo tồn các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Có các chính sách mới, phù hợp nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, hưởng thụ văn hóa ở các vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Năm là, chỉ đạo tăng cường hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa phù hợp với yêu cầu mới; chăm lo đời sống vật chất tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật. Có chính sách phù hợp thu hút cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực văn hóa ở cơ sở.
Sáu là, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa. Tổ chức các hoạt động giao lưu, giới thiệu di sản văn hoá giữa các dân tộc và giữa các địa phương trong tỉnh; tham gia các hội thi, hội diễn, chương trình du lịch.
Với sự quyết tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc của tỉnh Cao Bằng trong những năm qua đã phát huy giá trị truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc ngày càng được củng cố, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, quốc phòng - an ninh ở địa phương./.
Thực tế hiện nay, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Cao Bằng vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: Công tác quản lý quy hoạch, bảo tồn các di sản văn hóa, cảnh quan du lịch còn nhiều bất cập; việc đầu tư, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc còn ít, dàn trải; nhận thức của một số cấp uỷ, chính quyền, người dân đối với công tác sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc thiểu số còn hạn chế; việc phát huy giá trị của di sản, trong đó có việc cưới, việc tang, lễ hội có biểu hiện lệch lạc mai một các giá trị truyền thống. Nguyên nhân của hạn chế trên là do: Một số cấp uỷ đảng, chính quyền chưa nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của việc thực hiện công tác bảo tồn các giá trị văn hoá của các dân tộc thiểu số. Công tác quản lý nhà nước về giá trị văn hoá có mặt lúng túng. Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác văn hoá, thể dục, thể thao và du lịch ở các huyện, thành và cơ sở còn thiếu và yếu. Cao Bằng là tỉnh nghèo, huy động nguồn lực để thực hiện công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số còn hạn chế.
Để tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, tiếp tục tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo và quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 - 2025; Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 01/4/2020 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về bảo tồn và phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Cao Bằng.
Hai là, đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Quan tâm khôi phục, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số có dân số ít người; bảo tồn các lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc tộc, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và thu hút du lịch. Xây dựng và phát triển đa dạng các loại hình sinh hoạt, câu lạc bộ Hát then - Đàn tính tại các xã, phường, thị trấn; đưa Hát then - Đàn tính vào trong chương trình giảng dạy ở một số trường học.
Ba là, có kế hoạch, cơ chế và giải pháp xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống dân tộc trong xây dựng con người mới, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tiếp tục thực hiện tốt Chương trình mục tiêu phát triển văn hóa, đặc biệt là chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Bốn là, ưu tiên đầu tư, huy động các nguồn lực cho công tác xây dựng, bảo tồn văn hóa, như xây dựng các thiết chế văn hoá, các điểm vui chơi, giải trí phục vụ cộng đồng. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa các hoạt động văn hóa, coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững; coi trọng bảo tồn các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. Có các chính sách mới, phù hợp nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, hưởng thụ văn hóa ở các vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Năm là, chỉ đạo tăng cường hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa phù hợp với yêu cầu mới; chăm lo đời sống vật chất tinh thần, tạo điều kiện để đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng, nghệ thuật. Có chính sách phù hợp thu hút cán bộ trẻ, cán bộ dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực văn hóa ở cơ sở.
Sáu là, tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa. Tổ chức các hoạt động giao lưu, giới thiệu di sản văn hoá giữa các dân tộc và giữa các địa phương trong tỉnh; tham gia các hội thi, hội diễn, chương trình du lịch.
Với sự quyết tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc của tỉnh Cao Bằng trong những năm qua đã phát huy giá trị truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc ngày càng được củng cố, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được tăng cường góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, quốc phòng - an ninh ở địa phương./.
[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021, t. I, tr. 145 - 146.
[2] Quyết định số 266/QĐ-UBND ngày 08/3/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về Phê duyệt, công bố Danh mục kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
Tài liệu tham khảo:
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021.
2. Báo cáo số Số 444-BC/TU ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tỉnh ủy Cao Bằng về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
3. Báo cáo số 16 - BC-SVHTTDL ngày tháng 01 năm 2025 của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Cao Bằng về Công tác Văn hóa, Thể thao, Du lịch năm 2024 và Phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
Tài liệu tham khảo:
1. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2021.
2. Báo cáo số Số 444-BC/TU ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Tỉnh ủy Cao Bằng về tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
3. Báo cáo số 16 - BC-SVHTTDL ngày tháng 01 năm 2025 của Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Cao Bằng về Công tác Văn hóa, Thể thao, Du lịch năm 2024 và Phương hướng, nhiệm vụ năm 2025.
TS. Hà Huyền Nga
Khoa Nhà nước và pháp luật





