
- Bảo vệ nền tảng tư tưởng

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH PHỦ NHẬN NHỮNG THÀNH TỰU CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Thứ hai - 17/11/2025 16:26
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam giành được những thành quả cách mạng to lớn. Song các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá Đảng cũng như nền tảng tư tưởng của Đảng là việc làm hết sức cần thiết. Đây là cơ sở quan trọng, đưa ra những luận cứ khoa học nhằm phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam.
Các thế lực thù địch luôn có âm mưu, thủ đoạn phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Chúng tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Các thế lực thù địch tìm mọi cách tập trung công kích, xuyên tạc những thành tựu của đổi mới do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, chứ thực chất, theo chúng là “không có thật”. Sau hơn 45 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam vẫn là “nước tụt hậu, nhân dân còn đói nghèo, tham nhũng tràn lan, đạo đức suy đồi, xã hội vô kỷ cương”. [1].
Các thế lực thù địch cho rằng, Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không hề đổi mới chính trị. Việt Nam vẫn giữ nguyên bộ máy lãnh đạo chuyên quyền của Đảng Cộng sản. Thực chất là chúng tìm mọi cách phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn cho rằng ở Việt Nam không có dân chủ, quyền con người bị vi phạm. Chúng luôn lợi dụng vấn đề “dân chủ” “nhân quyền” để đả kích, chống phá sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam cụ thể:
Thứ nhất, khẳng định tính tất yếu khách quan của công cuộc đổi mới và không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc đổi mới. Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thực hiện từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12 - 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu, nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước Việt Nam. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng đất nước, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn của đất nước cũng như xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, công cuộc đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc, có lộ trình và bước đi thích hợp.Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, tổng thể cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại... Đại hội VI của Đảng (12 - 1986) xác định phải đổi mới từ kinh tế đến chính trị và các lĩnh vực khác. Về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) đã chỉ rõ: “ chúng ta tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị. Không thể tiến hành cải cách hệ thống chính trị một cách vội vã khi chưa đủ căn cứ, mở rộng dân chủ không có giới hạn, không có mục tiêu cụ thể và không đi đôi với tập trung thì dẫn đến sự mất ổn định về chính trị, gây thiệt hại cho sự nghiệp đổi mới”. Đại hội lần thứ VII của Đảng (6 - 1991) tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Chủ trương này, tiếp tục được các Đại hội Đảng thực hiện. Từ Đại hội VIII (1996), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”, với tinh thần phải “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị” [2]. Đại hội lần thứ XI của Đảng (2001) nhấn mạnh: “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đối mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườn định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương” [3].
Tổng kết 30 năm đổi mới, nhất là tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, Đại hội lần thứ XII của Đảng (2016) chỉ rõ: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, trong đó có thành tựu về giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Tuy nhiên, Đại hội XII cũng thẳng thắn chỉ ra hạn chế: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ”. Trên tinh thần đó, Đại hội XII đề ra mục tiêu chung: “đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị”. [4].
Đại hội lần thứ XIII của Đảng (2021), tiếp tục coi quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong các quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; khẳng định tiếp tục thực hiện “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt”; đề ra nhiệm vụ “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Đồng thời “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam”. Quan điểm này tiếp tục chỉ đạo, soi sáng sự nghiệp đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng [5].
Thứ ba, nước ta là nước dân chủ, tự do - dân chủ của nhân dân luôn được tôn trọng và phát huy. Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là chế độ dân chủ nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc hiến định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định: “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”; sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân; năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Về nhân quyền, Chỉ thị số 12-CT/TW của Ban Bí thư ngày 12/7/1992 về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta khẳng định: Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột và giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội XI, Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết.
Hiến pháp năm 2013 đã dành cả Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” với 36 điều hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong đó, khoản 1, Điều 14 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đó chính là cơ sở để Việt Nam đạt được những thành tựu cụ thể về dân chủ, nhân quyền mà dư luận thế giới đã ca ngợi và ghi nhận đối với nước ta [6].
Liên hợp quốc đã xác nhận: Việt Nam quốc gia đứng thứ hai trong khối châu Á - Thái Bình Dương và thứ chín trên 135 nước về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong Chính phủ. Việt Nam cũng là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Mới đây, Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc ngày 04/7/2019 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) đã khẳng định nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như đổi mới đất nước, xã hội và con người Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới. Vì vậy, phủ nhận những thành tựu cách mạng Việt Nam đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là việc làm hoàn toàn trái với sự thật, với công lý và lẽ phải, xúc phạm quá khứ thiêng liêng của dân tộc, cần phải vạch trần, đấu tranh phê phán và bác bỏ.
Các thế lực thù địch luôn có âm mưu, thủ đoạn phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Chúng tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với quan điểm, nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Các thế lực thù địch tìm mọi cách tập trung công kích, xuyên tạc những thành tựu của đổi mới do Đảng, Nhà nước Việt Nam “tự vẽ lên”, “tự mình khen mình”, chứ thực chất, theo chúng là “không có thật”. Sau hơn 45 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam vẫn là “nước tụt hậu, nhân dân còn đói nghèo, tham nhũng tràn lan, đạo đức suy đồi, xã hội vô kỷ cương”. [1].
Các thế lực thù địch cho rằng, Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không hề đổi mới chính trị. Việt Nam vẫn giữ nguyên bộ máy lãnh đạo chuyên quyền của Đảng Cộng sản. Thực chất là chúng tìm mọi cách phủ nhận và đòi xóa bỏ vai trò, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn cho rằng ở Việt Nam không có dân chủ, quyền con người bị vi phạm. Chúng luôn lợi dụng vấn đề “dân chủ” “nhân quyền” để đả kích, chống phá sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam cụ thể:
Thứ nhất, khẳng định tính tất yếu khách quan của công cuộc đổi mới và không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công cuộc đổi mới. Đổi mới ở Việt Nam do Đảng khởi xướng và lãnh đạo thực hiện từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12 - 1986). Đó là sự lựa chọn tất yếu, nhằm đưa Việt Nam thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, là một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước Việt Nam. Sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng đất nước, có ý nghĩa lịch sử đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là phù hợp với thực tiễn của đất nước cũng như xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, công cuộc đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc, có lộ trình và bước đi thích hợp.Công cuộc đổi mới ở Việt Nam là toàn diện, tổng thể cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại... Đại hội VI của Đảng (12 - 1986) xác định phải đổi mới từ kinh tế đến chính trị và các lĩnh vực khác. Về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (1989) đã chỉ rõ: “ chúng ta tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị. Không thể tiến hành cải cách hệ thống chính trị một cách vội vã khi chưa đủ căn cứ, mở rộng dân chủ không có giới hạn, không có mục tiêu cụ thể và không đi đôi với tập trung thì dẫn đến sự mất ổn định về chính trị, gây thiệt hại cho sự nghiệp đổi mới”. Đại hội lần thứ VII của Đảng (6 - 1991) tiếp tục thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Chủ trương này, tiếp tục được các Đại hội Đảng thực hiện. Từ Đại hội VIII (1996), Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”, với tinh thần phải “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp. Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị” [2]. Đại hội lần thứ XI của Đảng (2001) nhấn mạnh: “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đối mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườn định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương” [3].
Tổng kết 30 năm đổi mới, nhất là tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, Đại hội lần thứ XII của Đảng (2016) chỉ rõ: “Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, trong đó có thành tựu về giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Tuy nhiên, Đại hội XII cũng thẳng thắn chỉ ra hạn chế: “Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế; năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ”. Trên tinh thần đó, Đại hội XII đề ra mục tiêu chung: “đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị”. [4].
Đại hội lần thứ XIII của Đảng (2021), tiếp tục coi quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong các quan hệ lớn cần giải quyết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; khẳng định tiếp tục thực hiện “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt”; đề ra nhiệm vụ “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Đồng thời “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam”. Quan điểm này tiếp tục chỉ đạo, soi sáng sự nghiệp đổi mới của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng [5].
Thứ ba, nước ta là nước dân chủ, tự do - dân chủ của nhân dân luôn được tôn trọng và phát huy. Chế độ dân chủ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là chế độ dân chủ nhân dân hướng theo con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Một trong những đặc trưng của chế độ dân chủ ở Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. Tuy nhiên, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam phải tuân thủ nguyên tắc hiến định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam ngày càng hoàn thiện các quan điểm về dân chủ, nhân quyền, coi nỗ lực thể chế hóa, luật hóa quan điểm dân chủ, nhân quyền là yêu cầu bức thiết của phát triển. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, khẳng định: “phải phát huy quyền làm chủ của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng”; sau đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP (đến năm 2003 thay thế bằng Nghị định số 79/2003/NĐ-CP) về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã quy định về nội dung, phương thức, trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân; năm 2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn... Đây là các bước đi thống nhất, đồng bộ về chủ trương kết hợp hành động cụ thể tạo điều kiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Về nhân quyền, Chỉ thị số 12-CT/TW của Ban Bí thư ngày 12/7/1992 về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta khẳng định: Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột và giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới có điều kiện được bảo đảm rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội XI, Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết.
Hiến pháp năm 2013 đã dành cả Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” với 36 điều hiến định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong đó, khoản 1, Điều 14 khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Đó chính là cơ sở để Việt Nam đạt được những thành tựu cụ thể về dân chủ, nhân quyền mà dư luận thế giới đã ca ngợi và ghi nhận đối với nước ta [6].
Liên hợp quốc đã xác nhận: Việt Nam quốc gia đứng thứ hai trong khối châu Á - Thái Bình Dương và thứ chín trên 135 nước về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong Chính phủ. Việt Nam cũng là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Mới đây, Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc ngày 04/7/2019 tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) đã khẳng định nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng như đổi mới đất nước, xã hội và con người Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới. Vì vậy, phủ nhận những thành tựu cách mạng Việt Nam đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là việc làm hoàn toàn trái với sự thật, với công lý và lẽ phải, xúc phạm quá khứ thiêng liêng của dân tộc, cần phải vạch trần, đấu tranh phê phán và bác bỏ.
ThS. Phùng Thị Thu
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng
Giảng viên khoa Xây dựng Đảng





